THỂ CHẾ BẢO HIỂM XÃ HỘI NHẰM ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

Tìm hiểu về thể chế bảo hiểm xã hội ở Việt Nam nhằm đảm bảo an sinh xã hội bền vững. Nghiên cứu các chính sách, quy định và thực tiễn hiện hành.

Trường đại học

Học Viện Hành Chính Quốc Gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

171
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Thể Chế Bảo Hiểm Xã Hội tại VN

Bảo hiểm xã hội (BHXH) đóng vai trò then chốt trong hệ thống an sinh xã hội quốc gia. Các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ BHXH đã được bổ sung, tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận và thụ hưởng. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những kẽ hở dẫn đến lạm dụng, trục lợi quỹ BHXH, trốn tránh trách nhiệm. Chính sách BHXH bắt buộc và tự nguyện chưa đủ hấp dẫn để khuyến khích sự tham gia tích cực. Vì vậy, việc hoàn thiện thể chế BHXH là cần thiết để đảm bảo quyền lợi người lao động, tài chính quỹ BHXH và tính bền vững. Đề tài "Thể chế bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội bền vững ở Việt Nam" là một nghiên cứu cấp thiết. Theo tác giả Nguyễn Thế Linh, an sinh xã hội (ASXH) đã được Đảng chú trọng vì có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống nhân dân. BHXH là một hợp phần lớn, cơ bản và ổn định nhất của ASXH, tạo nên một quỹ tài chính lớn mạnh và đóng góp vào đảm bảo ASXH bền vững.

1.1. Phân Tích Vai Trò BHXH Trong Hệ Thống An Sinh Xã Hội

BHXH là chính sách xã hội phổ biến và được Đảng chú trọng từ sau Đại hội VI năm 1986, vì nó có ảnh hưởng sâu rộng lên các mặt đời sống của nhân dân. Ở Việt Nam, cấu trúc của hệ thống ASXH gồm 5 hợp phần, trong đó BHXH là một hợp phần (hay trụ cột) lớn nhất, cơ bản nhất và ổn định nhất bởi lẽ đối tượng tham gia BHXH phần lớn là NLĐ, là người có số lượng lớn trong cộng đồng dân cư, là những người trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra của cải cho xã hội. Qua việc đóng góp của người tham gia theo luật định đã tạo lên một quỹ tài chính lớn mạnh, được sự bảo hộ của nhà nước nên đã tạo sự cơ bản, ổn định của BHXH trong hệ thống ASXH. BHXH càng phát huy được vai trò của nó thì quỹ BHXH càng phát triển, quỹ này sẽ quay trở lại đảm bảo ổn định đời sống của NLĐ và gia đình họ, góp phần vào đảm bảo an sinh xã hội bền vững.

1.2. Đánh Giá Thực Trạng Chính Sách Bảo Hiểm Xã Hội

Chính sách ASXH, trong đó có chính sách BHXH đã luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm trong thời gian qua thể hiện thông qua việc liên tục ban hành các Nghị quyết của Trung ương, liên tục chỉnh sửa pháp luật về BHXH cho phù hợp với quan điểm bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, coi thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển bền vững đất nước, thể hiện tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận từ công cuộc đổi mới chính sách BHXH, từ phụ thuộc vào NSNN trở thành quỹ độc lập với NSNN và bao phủ lên số đông NLĐ thì việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trong đó có chính sách Bảo hiểm xã hội vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.

II. Thách Thức Bất Cập Của Thể Chế Bảo Hiểm Xã Hội VN

Việc xây dựng và thực hiện chính sách ASXH, bao gồm cả BHXH, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Các quy định pháp luật về BHXH chưa đáp ứng nhu cầu của người dân, chưa tạo được sự hấp dẫn để thu hút đông đảo nhân dân tham gia, và chưa theo kịp sự phát triển kinh tế - xã hội. Số người tham gia BHXH còn thấp so với tiềm năng, trong khi số người thụ hưởng BHXH tăng nhanh. Tình trạng vi phạm pháp luật về BHXH ngày càng tăng, đe dọa sự cân đối của quỹ hưu trí và tử tuất trong dài hạn. Cần có các giải pháp phòng ngừa rủi ro xã hội một cách chủ động.

2.1. Phân Tích Pháp Lý Về Các Quy Định BHXH Hiện Hành

Các quy định của pháp luật về BHXH chưa đáp ứng được nhu cầu mong muốn của người dân, chưa tạo sự hấp dẫn khuyến khích để đông đảo nhân dân tham gia, chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế - xã hội và chưa có các dự báo để việc điều chỉnh chính sách được kịp thời thích ứng với các rủi ro xã hội mới phát sinh. Số người tham gia BHXH còn thấp so với mức tiềm năng; trong khi số người thụ hưởng BHXH tăng nhanh, thêm vào tình trạng vi phạm pháp luật về BHXH ngày càng tăng dẫn đến quỹ hưu trí và tử tuất có nguy cơ mất cân đối trong dài hạn.

2.2. Đánh Giá Khả Năng Tiếp Cận BHXH Của Các Nhóm Dân Cư

Chính sách BHXH chưa phổ quát rộng đến các tầng lớp nhân dân lao động, chưa thực sự gắn với thị trường lao động, mới chỉ tập trung chủ yếu vào khu vực chính thức, chưa có chính sách khuyến khích phù hợp cho khu vực phi chính thức (nơi người lao động dễ bị tổn thương), chỉ mới chủ yếu theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế chứ chưa chủ động đón đầu những rủi ro trong tương lai nên chưa thực sự chú ý thoả đáng đến các giải pháp phòng ngừa theo thông lệ quốc tế.

2.3. Cơ Chế Quản Lý Tài Chính Của Hệ Thống BHXH Việt Nam

Cơ chế quản lý ở cả phương diện quản lý nhà nước, cơ chế tài chính và tổ chức bộ máy thực hiện bảo hiểm xã hội còn nhiều điểm bất cập. Các chế độ BHXH đã đảm bảo được quyền lợi của người tham gia nhưng chưa thể hiện đầy đủ các nguyên tắc đóng - hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.

III. Hoàn Thiện Thể Chế BHXH Giải Pháp Đảm Bảo Bền Vững

Để có một ASXH bền vững, BHXH cần có một thể chế rõ ràng, minh bạch, hiệu lực và hiệu quả. Nguyên tắc đóng - hưởng cần được quán triệt để thu hút người tham gia và mở rộng đối tượng. Cần đảm bảo hình thành một quỹ tài chính đủ lớn để thay thế ngân sách trong việc thực hiện chức năng ASXH. Cần hoàn thiện cách thức tổ chức thực hiện thu, chi, phát triển đối tượng, giải quyết chế độ chính sách, chức năng thanh tra giám sát, đầu tư phát triển quỹ và chi tiêu nội bộ. Cần phải có một hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả để có thể bảo vệ quỹ bảo hiểm xã hội.

3.1. Tách Bạch Quản Lý Nhà Nước Và Thực Hiện Chính Sách BHXH

Trong nền kinh tế thị trường, vai trò quản lý của Nhà nước về bảo hiểm xã hội càng cần thiết. Không giống như trước đây, việc xây dựng và thực hiện chính sách BHXH do chính các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện, thì nay tách chức năng quản lý nhà nước và chức năng thực hiện chính sách làm 2 hệ thống cơ quan. Việc tách hai chức năng này riêng ra trong tình hình kinh tế xã hội hiện nay ở nước ta đã làm cho chính sách BHXH có cơ hội phát huy hiệu quả vai trò của mình trong việc đảm bảo tốt hơn quyền lợi của NLĐ.

3.2. Đảm Bảo Tính Độc Lập Của Quỹ Bảo Hiểm Xã Hội

Quỹ BHXH được hình thành từ nguồn đóng góp của người tham gia và được NSNN bảo trợ đã dần độc lập với ngân sách Nhà nước, được chủ động về nguồn chi theo quy định của pháp luật đã đảm bảo hơn về quyền lợi cho người thụ hưởng theo nguyên tắc đóng hưởng, không còn tính bình quân như trước đây.

3.3. Cải Thiện Chính Sách BHXH Nâng Cao Tính Hấp Dẫn

Về chính sách Bảo hiểm xã hội về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu của đa số người dân, nhưng các thể chế quy định các chế độ chính sách còn thu hẹp, chưa đầy đủ theo khuyến nghị của ILO, chính sách chưa thu hút, chưa khuyến khích người lao động tham gia, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe đối với đối tượng bị điều chỉnh bởi pháp luật về bảo hiểm xã hội là người sử dụng lao động và người lao động.

IV. Ứng Dụng Khoa Học Hành Chính Công vào Thể Chế BHXH

Lý luận khoa học hành chính công về thể chế BHXH còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Cần có quan niệm rõ ràng về thể chế, thể chế ASXH và thể chế BHXH. Cần làm rõ tác động của chúng đến xã hội để người dân và đối tượng tham gia có thể giám sát và thực hiện một cách tự giác. Cần tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng thực hiện chính sách trong thể chế BHXH. Cần xác định địa vị pháp lý chính xác cho cơ quan BHXH để tạo cơ chế phát huy tính tự chủ và không bị hạn chế trong thực thi nhiệm vụ.

4.1. Giải Quyết Tranh Cãi Xung Quanh Quan Niệm Về Thể Chế BHXH

Hiện nay dưới góc độ khoa học vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh quan niệm về thể chế, về thể chế an sinh xã hội và về thể chế bảo hiểm xã hội. Hiện nay, các thể chế, thiết chế, chế định dành cho bảo hiểm xã hội đã có nhưng chưa được người dân nói chung và đối tượng điều chỉnh nhận thức đầy đủ.

4.2. Nâng Cao Nhận Thức Về Thể Chế ASXH BHXH

Ở Việt Nam, mặc dù thể chế về ASXH, bảo hiểm xã hội đã có manh nha từ khi mới thành lập nước nhưng thể chế về ASXH và thể chế về bảo hiểm xã hội là gì? Nó tác động đến xã hội như thế nào thì chưa được rõ để người dân nói chung và đối tượng tham gia được giám sát và tự giác thực hiện.

4.3. Tách Bạch Quản Lý Nhà Nước Thực Hiện Chính Sách trong BHXH

Trong thể chế bảo hiểm xã hội, do chưa nắm rõ được nội hàm của nó nên chưa tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng thực hiện chính sách. Cần xác định địa vị pháp lý chính xác cho cơ quan bảo hiểm xã hội rõ ràng nhằm tạo cơ chế phát huy được tính tự chủ cho ngành Bảo hiểm xã hội, cách thực hiện cơ chế của một đơn vị sự nghiệp sao cho không bị hạn chế trong thực thi nhiệm vụ.

V. Mở Rộng Đối Tượng Tham Gia Để Đảm Bảo An Sinh Xã Hội

Để chính sách an sinh xã hội có tính phổ quát rộng rãi tới các tầng lớp nhân dân lao động, cần có chính sách khuyến khích phù hợp cho khu vực phi chính thức (nơi người lao động dễ bị tổn thương). Chính sách cần chủ động đón đầu những rủi ro trong tương lai và chú ý thoả đáng đến các giải pháp phòng ngừa theo thông lệ quốc tế. Các chế độ BHXH cần được xây dựng theo các nguyên tắc đóng - hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững.

5.1. Chính sách Khuyến Khích Khu Vực Phi Chính Thức

Chính sách BHXH chưa phổ quát rộng đến các tầng lớp nhân dân lao động, chưa thực sự gắn với thị trường lao động, mới chỉ tập trung chủ yếu vào khu vực chính thức, chưa có chính sách khuyến khích phù hợp cho khu vực phi chính thức (nơi người lao động dễ bị tổn thương)

5.2. Chủ Động Đón Đầu Rủi Ro

Chỉ mới chủ yếu theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế chứ chưa chủ động đón đầu những rủi ro trong tương lai nên chưa thực sự chú ý thoả đáng đến các giải pháp phòng ngừa theo thông lệ quốc tế.

5.3. Xây Dựng Các Chế Độ BHXH Theo Nguyên Tắc

Các chế độ BHXH đã đảm bảo được quyền lợi của người tham gia nhưng chưa thể hiện đầy đủ các nguyên tắc đóng - hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.

VI. Nghiên Cứu Về Thể Chế Bảo Hiểm Xã Hội Kết Luận

Từ những lý do cấp thiết nêu trên, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu "Thể chế Bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội bền vững ở Việt Nam" là cần thiết. Nghiên cứu này không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn hiện nay ở nước ta. Mục tiêu là làm rõ những vấn đề lý luận về thể chế BHXH nhằm đảm bảo ASXH bền vững và thực trạng thể chế BHXH ở Việt Nam. Luận án sẽ đưa ra các giải pháp mang tính hệ thống để hoàn thiện và nâng cao chất lượng thực hiện thể chế BHXH.

6.1. Ý Nghĩa Lý Luận Thực Tiễn

Từ những lý do cấp thiết trên tác giả đã lựa chọn đề tài: “Thể chế Bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội bền vững ở Việt Nam” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công để nghiên cứu với mục đích đưa ra nội dung nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn hiện nay ở nước ta.

6.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Chính

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về thể chế bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội bền vững và thực trạng thể chế bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay, luận án đưa ra các giải pháp mang tính hệ thống góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng thực hiện thể chế bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội bền vững ở Việt Nam trong thời gian tới.

6.3. Nhiệm Vụ Nghiên Cứu Quan Trọng

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ: - Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến thể chế nói chung, Bảo hiểm xã hội và thể chế Bảo hiểm xã hội gắn với mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội bền vững, từ đó chỉ ra những khoảng trống mà đề tài luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu. - Làm rõ cơ sở lý luận v...

16/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những công trình nghiên cứu về thể chế 1.1 Nhóm công trình nghiên cứu ngoài nước The formal and informal constraints of institution.North, Institution, Institutional Change and Economic Performance (1990) tạm dịch: Thể chế, sự thay đổi thể chế và vận hành kinh tế của Douglass North. Trong cuốn sách Douglass North đưa ra khái niệm về thể chế, đồng thời phân chia thể chế thành hai loại: thể chế chính thức và không chính thức.

Theo Douglass North thì “thể chế là những quy tắc của trò chơi trong xã hội, hay đó là những quy tắc mang tính minh bạch và nhân văn để điều chỉnh những hành vi giao dịch giữa con người với nhau. Lý thuyết về thể chế được xây dựng dựa trên các hành vi ứng xử giữa con người với nhau phù hợp với lý thuyết của chi phí giao dịch”. [112] Sách: “Toward a Comparative Institutional Analysis” (Hướng tới hệ thống thể chế so sánh) của tác giả Masahiko Aoki xuất bản 2001. Trong tác phẩm của mình, Masahiko Aoki bắt đầu từ việc tiếp cận lý thuyết cổ điển về thể chế kinh tế mới được bắt nguồn từ học giả Ronald Coase, trong đó đánh giá cao vai trò của khung thể chế và chi phí giao dịch trong vận hành kinh tế.

Với nghĩa thể chế là quy tắc của trò chơi, sự phát triển kinh tế cùng với hiệu quả của nó luôn được xem là những yếu tố cơ bản làm thay đổi thể chế hay phải cải cách nó. Nhìn vào kinh nghiệm từ các quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam), sự bất ổn định, leo thang về giá cả cũng như chi phí giao dịch tăng cao trong các mối quan hệ giữa các cá nhân và giữa cá nhân với Nhà nước cho thấy nguy cơ biến động thể chế, hàng loạt quy tắc, văn bản mới phải sửa đổi, bổ sung để điều chỉnh kịp thời. Masahiko Aoki lý giải sự cần thiết phải thay đổi, cải cách thể chế ngoài lý do nêu trên còn có thể do tác động bởi các yếu tố văn hóa pháp lý, môi trường và tâm lý. Masahiko Aoki đã đưa ra nhiều mô hình, phân tích và lý giải cho sự phát triển của thể 11 chế, đặc biệt liên quan đến thể chế hành chính ở các nước XHCN hiện nay và XHCN ở Đông Âu, Liên Xô trước đây nay đã đổi sang nền kinh tế thị trường.

[131] Đa số các nhà kinh tế học xem thể chế như là “luật chơi”. Vào những năm 1990, vai trò của thể chế đã dần phát triển và được các nhà quản lý coi trọng hơn, nên hầu hết các các nhà nghiên cứu cho rằng thể chế là trung tâm của phát triển bền vững bởi nhờ có vai trò của thể chế mới xây dựng lên các chính sách và từ đó mới huy động các nguồn lực góp phần vào sự phát triển chung của thế giới. Nhóm công trình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, thuật ngữ “thể chế” là một thuật ngữ khó được đưa ra một khái niệm cụ thể, mà mỗi tác giả nghiên cứu lại có những quan điểm không giống nhau, thuật ngữ này được nhiều tác giả sử dụng nhưng chưa có khái niệm nào được đưa ra mà chủ yếu chỉ dựa trên dẫn giải các định nghĩa về thể chế của các tác giả ở nước ngoài để phục vụ nghiên Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên năm 1992), thể chế là “những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo”. [89] Thời gian qua, có một số tác giả trong nước cũng đã đi sâu nghiên cứu về thể chế và đưa khái niệm thể chế, tuy nhiên chỉ gắn với một số các lĩnh vực cụ thể, điển hình như: Cuốn “Thể chế - cải cách thể chế và phát triển: Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt nam” (2002), của tác giả Trần Đình Ân, Võ Trí Thành, các tác giả đã đưa ra những vấn đề lý luận thể chế kinh tế cơ bản nhất cũng như kinh nghiệm xây dựng, chuyển đổi và cải cách thể chế ở một số nước trên thế giới và ở nước ta.

[4] Giáo trình: “Hành chính công - dùng cho nghiên cứu học tập và giảng dạy sau đại học” của Học viện Hành chính, nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, năm 2006. Chương III và chương X của Giáo trình trình bày về thể chế hành chính nhà nước và quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. [56] 12 Luận án “Thể chế quản lý nhà nước đối với giáo dục sau đại học ở Việt Nam hiện nay” của Lê Như Phong, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2016 đã đưa ra khái niệm về thể chế quản lý nhà nước đối với giáo dục sau đại học là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vận hành các quy định pháp luật về quản lý nhà nước… [91] Sách “Thể chế chính trị” của tác giả Nguyễn Đăng Dung và Bùi Ngọc Sơn (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004) đã tiếp cận quan niệm thể chế khi nghiên cứu về thể chế chính trị. Theo các tác giả: “Mỗi lĩnh vực hoạt động của con người đều có các thể chế nhất định.

Vì vậy, thể chế bao gồm nhiều loại khác nhau: thể chế kinh tế, thể chế chính trị, thể chế giáo dục, thể chế y tế, thể chế văn hoá,…”. Điểm độc đáo của công trình này là tiếp cận thể chế chính trị dưới hai góc độ: Thể chế chính trị về hành vi và thể chế chính trị về tổ chức. Và, dựa vào hình thức thể hiện để chia làm hai loại, thể chế chính trị thành văn và thể chế chính trị bất thành văn. Thể chế chính trị thành văn thể hiện tập trung trong hiến pháp của mỗi quốc gia, nhưng còn có thể được quy định ở các văn bản dưới hiến pháp, bao gồm các đạo luật thường, thậm chí cả văn bản dưới luật.

Những công trình nghiên cứu về an sinh xã hội và thể chế bảo hiểm xã hội gắn với yêu cầu đảm bảo an sinh xã hội bền vững 1.1 Nhóm công trình nghiên cứu ngoài nước Cuốn Về bảo trợ xã hội và thúc đẩy xã hội: Thiết kế và triển khai hệ thống an sinh hiệu quả, nhóm tác giả M.Ouerghi lại cho rằng ASXH chỉ bao gồm hệ thống chính sách trợ giúp xã hội không có đóng góp và nhắm đến đối tượng là người nghèo và người dễ bị tổn thương. Do đó, các chính sách ASXH và việc triển khai thực hiện chính sách ASXH cũng chỉ dừng lại ở những hoạt động chính thức của nhà nước thông qua hình thức trợ cấp mà chưa xem xét đến vai trò của tư nhân, thị trường trong việc tận dụng khai thác nguồn lực này. [119] Rebecca Holmes và Lucy Scott (2016), Extending social insurance to 13 informal workers, nhóm tác giả đã nghiên cứu về mở rộng BHXH cho NLĐ phi chính thức. Lao động phi chính thức phải đối mặt với mức độ rủi ro cao nhưng phần lớn không được BHXH.

Trong khi đó, phụ nữ làm việc không chính thức phải đối mặt với rủi ro cao trong thị trường LĐ và trong suốt vòng đời, nhưng phụ nữ nhiều hơn nam giới bị loại khỏi các chương trình bảo hiểm. Ngày càng có nhiều quốc gia đang mở rộng BHXH cho NLĐ phi chính thức, nhưng chỉ với một số ngoại lệ, hầu hết các chính sách vẫn bị mù giới. Tuy nhiên, cải cách đáp ứng giới có thể đảm bảo tăng độ bao phủ của phụ nữ, bao gồm cả LĐ nữ không chính thức, để giải quyết các rủi ro mà họ gặp phải. Có thể kể đến như: pháp luật trong thị trường LĐ; công nhận nền kinh tế chăm sóc; thiết kế chính sách đổi mới trong các tùy chọn thanh toán và các quy trình hành chính đơn giản hóa; và đầu tư vào năng lực phân bổ nhạy cảm giới.

Bài viết này là một phần của một loạt các báo cáo tổng quan nghiên cứu để đánh giá các rào cản đối với việc tham gia các chương trình bảo trợ xã hội của LĐ nữ không chính thức và người di cư nội bộ. Đánh giá đầu tiên tập trung vào sự tham gia của nữ LĐ phi chính thức trong các chương trình bảo trợ xã hội. Đánh giá thứ hai kiểm tra việc mở rộng BHXH cho LĐ nữ không chính thức. Đánh giá thứ ba thảo luận về người di cư nội bộ tham gia vào các chương trình bảo trợ xã hội.

Mỗi phần trong loạt bài viết đánh giá mức độ mà các nhóm dân số này tham gia vào các chương trình bảo trợ xã hội và thảo luận về ý nghĩa chính sách để mở rộng các chương trình bảo trợ xã hội cho các nhóm này. Enoff and Roddy McKinnon (2011), Social Security Contribution Collection and Compliance: Improving Governance to Extend Social Protection, nhóm tác giả chỉ ra sáu lý do tại sao cần phải cải tiến thu và các khoản đóng góp: (i) Vì đóng góp là cơ sở quan trọng để đảm bảo quyền lợi hưởng. (ii) Hệ thống thu các khoản đóng góp đóng vai trò như một kênh kết nối hiệu quả giữa người tham gia và cơ quan tổ chức thực hiện (iii) Cải tiến thu và các khoản đóng góp là cơ sở đảm bảo tính bền vững 14 tài chính; nó cũng là một vấn đề đảm bảo tính bền vững về mặt xã hội và chính trị (ISSA, 2010a) Sự kỳ vọng là các yếu tố này tạo ra một vòng tròn chính đáng về tính hợp pháp và mức độ tuân thủ cao. (iv) Đảm bảo tuân thủ đóng góp sẽ tạo điều kiện cho các nỗ lực để mở rộng phạm vi BHXH, đến các nhóm dân cư tiếp cận khó đến các thị trường lao động chính thức.

(v) Mở rộng xã hội giữa các quốc gia, ví dụ như tham gia BHXH cho người nước ngoài làm việc trong nước. (vi) Đối với các quản trị viên của tất cả các chương trình ASXH có đóng góp, việc thực hiện các khoản đóng góp và tuân thủ được cải thiện và đáng tin cậy phải được coi là một khía cạnh thiết yếu của quản trị. Điều này đồng nghĩa với quan điểm thu đóng góp và tuân thủ là "quản trị tốt". Tiếp cận dưới góc độ hướng tới đảm bảo thu và tuân thủ trên cơ sở nền quản trị hành chính.

Các bằng chứng cho thấy rằng bảy yếu tố cốt lõi kết hợp thường tạo ra cơ sở thành công trong thu và tuân thủ các khoản đóng góp. Bên cạnh việc nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng và tình trạng tài chính và công bằng của chương trình, thành công đó có thể hỗ trợ cả nỗ lực quốc gia và quốc tế để mở rộng phạm vi BHXH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tóm tắt nghiên cứu "Nghiên cứu về Thể Chế Bảo Hiểm Xã Hội và An Sinh Xã Hội Bền Vững tại Việt Nam" cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng một hệ thống an sinh xã hội vững chắc, đảm bảo quyền lợi cho người dân trong bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam đang phát triển. Nghiên cứu này đi sâu vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của hệ thống bảo hiểm xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và mở rộng phạm vi bao phủ.

Để hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý chi bảo hiểm xã hội, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn tăng cường quản lý chi bảo hiểm xã hội tại huyện bình giang tỉnh hải dương. Tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn chi tiết về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi bảo hiểm xã hội ở cấp địa phương. Bên cạnh đó, để tìm hiểu sâu hơn về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội, bạn có thể xem Luận văn thạc sĩ hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại bảo hiểm xã hội huyện hướng hóa tỉnh quảng trị min. Việc nghiên cứu cả hai khía cạnh thu và chi sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống bảo hiểm xã hội.