Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO 1. Khái niệm, đặc điểm của bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 1. Một số khái niệm cơ bản * Khái niệm tín ngưỡng - Tín ngưỡng; là một niềm tin có hệ thống như một phần cấp thấp của tôn giáo, mà con người tin vào để giải thích thế giới và vũ trụ mà để mang lại sự thịnh vương bình yên và thanh cao hạnh phúc cho bản thân và mọi người. Tín ngưỡng còn là thể hiện giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững.
Theo một cách hiểu đơn giản nhất, tín ngưỡng là tin theo và tôn thờ lực lượng siêu nhiên, thần bí, hoặc là sự vật, hiện tượng, con người có thật được thần bí hóa. Tín ngưỡng là niềm tin về những điều linh thiêng, những sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người chỉ cảm nhận được mà khó có thể nhận thức được. Tín ngưỡng còn thể hiện giá trị cuộc sống, ý nghĩa cuộc sống bền vững, đôi khi được hiểu là tôn giáo hay nói chính xác hơn, tín ngưỡng khi phát triển đến một mức nào đó thì có thể trở thành tôn giáo. Theo Nguyễn Trần Bạt thì “tín ngưỡng là kết quả của tâm lý ngờ vực, trong đó lớn nhất và phổ biến nhất là ngờ vực ngay chính hiện tại, ngay chính những đại lượng vật lý”[4].
Tín ngưỡng theo ông là nơi con người nghỉ ngơi, giải trí. Hàng ngày, con người tiếp xúc với nhiều sự kiện, nhiều hiện tượng, sự vật. Tuy nhiên, với sự tò mò, thích khám phá con người không bao giờ dừng lại ở mức độ cảm nhận mà con người luôn đi tìm cho mình câu trả lời về các sự vật, sự kiện, hiện tượng đó. Từ đó con người thu được kiến thức, tư tưởng và tín ngưỡng.
Và con người gọi là khoa học-một hệ thống tri thức khi con người tìm hiểu nguồn gốc của mọi việc đã giải thích cho con người về thế giới, về thực tại dường như là chưa đủ để con người hiểu hết được những gì đang diễn ra trong đời sống của mình nhất là trong vấn đề tâm linh. Sự hạn chế này khiến con người nảy sinh lòng tin dùng thế lực siêu nhiên, huyền bí để giải thích cho các vấn đề mà khoa học không thể lý giải nổi như sự hiện hữu của linh hồn, chiêm tinh, thế giới tồn tại bên ngoài thế giới đang sống do đó tín ngưỡng được hình thành. 8 * Khái niệm tôn giáo Khái niệm tôn giáo: là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiều. Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo: - Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”.
- Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …” Để có khái niệm đầy đủ về tôn giáo cần phải chú ý: - Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình. - Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống. Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải. Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo nhưng có thể chia thành hai trường phái chính: - Thứ nhất, quan điểm phi mác xít cho rằng tôn giáo là cái thiêng liêng vĩnh hằng, gắn liền với con người và tồn tại cùng con người.
- Thứ hai, quan điểm của Mác xít về vấn đề tôn giáo: Tôn giáo là mặt trời ảo tưởng quay xung quanh mặt trời hiện thực, là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinh thần của trạng thái thế giới không có tinh thần. Nhiều định nghĩa như vậy nhưng khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: Hiện hữu và phi hiện hữu, hữu hình và vô hình. Đồng thời tôn giáo không chỉ là sự bất lực của con người 9 mà còn thể hiện niềm tin sâu sắc của họ về một cuộc sống lý tưởng khi theo một tôn giáo nào đó. Ngoài ra, tôn giáo được biết đến là hệ thống hoàn chỉnh các quan niệm, ý thức tín ngưỡng, thể hiện tập trung ở lòng tin, tình cảm tôn giáo, hành vi và hoạt động tôn giáo.
Tôn giáo là hình thức tín ngưỡng có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và giáo hội, được tổ chức chặt chẽ. Như vậy, Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia * Khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Khái niệm: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Một khái niệm nữa cần được quan tâm trong tìm hiểu về quyền tự do TN-TG là “tự do”. Theo cách hiểu thông thường nhất, tự do là một khái niệm mô tả tình trạng khi một cá nhân không bị sự ép buộc, có cơ hội lựa chọn và hành động theo đúng với ý chí nguyện vọng của mình.
Còn tự do tín ngưỡng hay tự do tôn giáo thường được coi là một nguyên tắc ủng hộ quyền tự do của cá nhân hay cộng đồng trong việc công khai hoặc bí mật thực hành, thờ phụng, rao giảng hay tu tập một tôn giáo hay tín ngưỡng. Khái niệm này thường được thừa nhận bao gồm cả việc tự do thay đổi tôn giáo hoặc tự do không theo một tôn giáo nào. Quan niệm của Thánh Công đồng Vantican II: Con người có quyền tự do TN-TG, quyền tư do này con người không bị lệ thuộc vào áp lực cá nhân, đoàn thể xã hội hay của bất cứ một quyền lực nào khác. Với ý nghĩa đó, trong lĩnh vực tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng không ai bị ngăn cấm hành động theo lương tâm, dù đó là hành động cá nhân hay công khai, một mình hay đông người, trong những giới hạn chính đáng[15].
Tự do TN-TG còn có nghĩa là các cộng đoàn tôn giáo không bị ngăn cản trong việc tự do biểu lộ các hiệu năng riêng của giáo thuyết minh trong việc tổ chức xã hội và làm cho toàn thể sinh hoạt nhân loại được sống. Sau hết, theo bản chất xã hội của 10 con người, cũng như theo bản chất của tôn giáo, con người có quyền tự do hội họp hay thành lập những hiệp hội giáo dục, văn hóa, từ thiện và xã hội do cảm thức tôn giáo thúc đẩy[16]. Từ những cách hiểu khác nhau trên, tác giả đưa ra nhận định chung về quyền tự do TN-TG: Là quyền con người mà trong đó mỗi cá nhân có thể lựa chọn tín ngưỡng, tôn giáo theo ý muốn của mình, việc lựa chọn ở đây được hiểu là quyền theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo; quyền được thay đổi tôn giáo, quyền được thể hiện, bày tỏ tín ngưỡng tôn giáo của mình. Đặc điểm của quyền tự do tín ngưỡng: Là quyền con người nên quyền tự do TN-TG cũng mang đầy đủ các đặc điểm của quyền con người bên cạnh những đặc trưng riêng biệt của quyền này.
Những đặc điểm của quyền con người bao gồm: Mang tính phổ biến, không thể chuyển giao, không thể chia cắt, không thể bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất kỳ chính thể nào. Tính phổ biến nghĩa là quyền tự do TN-TG là quyền của tất cả mọi người không có sự phân biệt nào, khi sinh ra con người đã được trao quyền này. Không thể chuyển giao, chuyển nhượng đồng nghĩa với việc tất cả mọi người sẽ không bị bất cứ chủ thể nào tước đi quyền này một cách tùy tiện. Không thể chia cắt khẳng định vị trí quan trọng của quyền tự do TN-TG là ngang bằng với các quyền con người khác.
Một đặc điểm quan trọng khác của quyền này đó là để quyền tự do TN-TG được bảo đảm tốt nhất, cần phải được thực hiện với các quyền con người khác. Cụ thể, quyền tự do TN-TG được bảo đảm thì kèm theo đó là quyền lập hội, quyền tự do ngôn luận, quyền sở hữu. Quyền tự do TN-TG thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị mang màu sắc dân sự nhiều hơn là chính trị. Bởi tính cá nhân rất cao trong việc thể hiện niềm tin của con người cụ thể trong khi tính chính trị được thể hiện mờ nhạt thông qua việc một nhóm người cùng chung niềm tin tổ chức lại cùng nhau duy trì, thực hành tôn giáo.
Ngoài ra, tôn giáo còn phản ánh bản chất của chế độ chính trị xã hội và trình độ phát triển của xã hội. Điều này được chứng minh trong lịch sử phát triển của các tôn giáo. Vào đầu thế kỷ VII TCN, sự ra đời của Hồi giáo tại bán đảo Ả rập gắn liền với sự biến chuyển của xã hội công xã nguyên thủy sang chế độ xã hội có giai cấp, đòi 11 hỏi phải thống nhất các bộ lạc tại Ả rập thành một nhà nước phong kiến. Đạo Phật ra đời bắt nguồn từ những nguyên nhân chính trị sâu xa, là trào lưu chống lại chế độ đẳng cấp và đạo Bà-la-môn.
Kitô giáo ra đời là sự phản ứng của quần chúng trước chính sách áp bức bóc lột của đế quốc La Mã. Như vậy, quyền tự do TN-TG được xác lập, thực hiện và phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tại một số thời điểm và một số quốc gia nhất định. Quyền tự do TN-TG không phải là một quyền tuyệt đối.