Chương 1 đề cập những vấ n đề sau đây: 1. Khái niệm thu hồi đất và thu hồi đất phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế 1. Khái niệm thu hồi đất Trong khoa học pháp lý, xây dựng khái niệm là yếu tố tiên quyết để tạo lập cơ sở lý luận. Trong quá trình ban hành và thực thi pháp luật, xác định khái niệm và nội hàm khái niệm là những yếu tố gốc rễ, nền tảng bảo đảm pháp luật được hiểu và vận dụng thống nhất.
Nghiên cứu pháp luật về bảo đảm quyền lợi của người nông dân khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế, trước hết, ta phải làm rõ khái niệm thế nào là thu hồi đất. Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Để khai thác, sử dụng đất đai một cách hợp lý, thống nhất, Nhà nước ta trong quá trình quản lý đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để phân phối lại quỹ đất quốc gia cho nhiều chủ sử dụng. Một trong những biện pháp đó chính là thu hồi đất.
Hiểu một cách thuần túy thì thu hồi đất là việc Nhà nước sẽ tước đi quyền sử dụng của 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các chủ sử dụng đất mà qua đó để thiết lập một quan hệ sử dụng đất mới phù hợp với lợi ích Nhà nước và xã hội. Thực tế thì thu hồi đất là giai đoạn kết thúc việc sử dụng đất của chủ thể này nhưng là bước kế tiếp của việc sử dụng đất của một chủ thể mới. Khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý”. Cách định nghĩa này dễ dẫn đến cách hiểu rằng người sử dụng đất bị thu hồi chỉ là tổ chức hay Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, trong khi đó còn có chủ thể khác là hộ gia đình, cá nhân lại không được đề cập đến.
Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định về khái niệm thu hồi đất về cơ bản đã hợp lý hơn so với Luật Đất đai năm 2003: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”. Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Từ các định nghĩa trên, có thể thấy thu hồi đất có các đặc điểm sau: Thứ nhất, thu hồi đất là một biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê đất. Đây là sự thực thi một trong những nội dung của quyền lực của Nhà nước về quản lý đất đai.
Vì vậy, thẩm quyền thu hồi đất phải tuân thủ theo quy định của Luật Đất đai. Một quyết định thu hồi đất không đúng thẩm quyền hoặc trái thẩm quyền sẽ không làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai, ví dụ như quyết định thu hồi đất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với đất giao cho tổ chức sử dụng đất. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, thu hồi đất mang tính hành chính mệnh lệnh, bắt buộc. Đây là quan hệ giữa một bên là người sử dụng đất với một bên là Nhà nước, hai chủ thể này không có sự bình đẳng về mặt pháp lý.
Tuy nhiên, bên cạnh phương pháp mệnh lệnh hành chính là phương pháp giáo dục, thuyết phục, đặc biệt là trong thu hồi đất để phục vụ mục tiêu an ninh quốc phòng, lợi ích công cộng. Thứ ba, việc thu hồi đất phải xuất phát từ nhu cầu Nhà nước và xã hội hoặc là biện pháp chế tài nhằm xử lý các vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất. Nhà nước có thể thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng; hoặc để chấm dứt sự vi phạm của người sử dụng đất và lập lại kỷ cương trong quản lý nhà nước về đất đai. Khái niệm thu hồi đất phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế Về khái niệm thu hồi đất để phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế, khoản 1 Điều 40 Luật Đất đai năm 2003 xác định: “Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ”.
Luật Đất đai năm 2013 không quy định thế nào là thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế, mà chỉ quy định các trường hợp cụ thể mà Nhà nước tiến hành thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội. Căn cứ vào Điều 62 Luật Đất đai năm 2013, có thể xác định Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế trong các trường hợp sau: - Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất; - Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm: Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà thu hồi đất: Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản. Như vậy, thu hồi đất để phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế là một trong các trường hợp Nhà nước thu hồi đất, với mục đích là để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Còn đối với các dự án sản xuất, kinh doanh mà không vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định cụ thể tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 thì quỹ đất sẽ không do Nhà nước thu hồi mà chủ đầu tư sẽ sử dụng đất thông qua hình thức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo Điều 73 Luật Đất đai năm 2013.
Thu hồi đất để phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế cũng có các đặc điểm của thu hồi đất nói chung. Ngoài ra, thu hồi đất để phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế còn có đặc điểm sau: - Mục đích, động cơ của việc thu hồi đất là lợi nhuận kinh tế. Nhà nước là chủ thể đứng ra thu hồi đất để giao cho các chủ đầu tư dự án. Đất được thu hồi được sử dụng để thực hiện các dự án không phải phục vụ chung cho lợi ích của cả cộng đồng hay vì mục đích an ninh quốc phòng quốc gia, mà để thực hiện các dự án mang lại lợi ích kinh tế, nhằm phát sinh lợi nhuận như dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị,….
Chính chủ đầu tư là người đề xuất thu hồi đất của người sử dụng đất với mục đích, động cơ vì lợi nhuận kinh tế. - Mặc dù quan hệ thu hồi đất vì mục đích kinh tế là quan hệ hành chính mệnh lệnh (Nhà nước ban hành quyết định hành chính để thu hồi đất của người 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sử dụng đất); tuy nhiên, đối với các dự án mà chủ đầu tư tự đứng ra thoả thuận với người dân thì quan hệ này đã chuyển sang quan hệ kinh tế - dân sự. Khái niệm quyền lợi của nông dân khi Nhà nƣớc thu hồi đất để phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, quyền lợi là “quyền được hưởng những lợi ích về vật chất, tinh thần nào đó”. Từ đó, có thể hiểu quyền lợi của nông dân khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế là những lợi ích hợp pháp về vật chất, tinh thần mà người nông dân được hưởng khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế, bao gồm: - Quyền được bồi thường về đất; - Quyền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại; - Quyền được bồi thường thiệt hại đối với tài sản trên đất; - Quyền được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm và tái định cư.
Vậy bồi thường, hỗ trợ nghĩa là gì? Về khái niệm bồi thường, Từ điển Tiếng Việt thông dụng định nghĩa: bồi thường là “trả cho người khác cái có giá trị tương xứng với những thiệt hại đã gây ra” [37]. Tại khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 định nghĩa: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất”. Ta thấy, theo khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của Luật Đất đai năm 2003 nêu trên thì bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chỉ gồm bồi thường về đất, trong khi việc thu hồi đất không chỉ gây thiệt hại về đất, mà còn là những thiệt hại liên quan đến quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi trên đất, thậm chí là thiệt hại về sức 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khỏe do áp lực căng thẳng, lo âu của người sử dụng đất.