Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI 1. Khái niệm quyền con người và bảo đảm quyền con người 1. Khái niệm quyền con người Theo Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: “ Quyền là một khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế”. [45] Như vậy, quyền phải có sự thừa nhận về mặt pháp lý và được đảm bảo thực hiện bởi các quy định của pháp luật.
Quyền phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với các chủ thể cá nhân, được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định. Quyền con người (human rights) là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau (theo một tài liệu của Liên hợp quốc, có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố). Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người. Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu.
Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người. [44] 8 Bên cạnh định nghĩa kể trên, một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn, theo đó, quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội…; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người. Định nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên (natural rights). Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ.
Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử. Có thể nói, quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý… Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độ khác nhau.
Một định nghĩa rất phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên: Quyền con người là những quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người. Ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc thường xuyên được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu: quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người. Ở Việt Nam, đã có nhiều tác phẩm phân tích về vấn đề quyền con người. Trong tác phẩm Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả định nghĩa quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của 9 con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
[15] Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật. Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do…; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người. Khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội Bảo đảm quyền con người và quyền công dân là một vấn đề lớn, phức tạp cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Bảo đảm quyền con người xét cho cùng chính là việc ghi nhận và thực hiện những cam kết trong pháp luật quốc tế về các quyền con người vào trong pháp luật mỗi quốc gia. Không thể bảo đảm quyền con người nếu chỉ dựa vào quyền tự nhiên của con người, bởi tự thân những quyền tự nhiên không thể tự mình vận hành trong một xã hội rộng lớn ở phạm vi quốc tế và phạm vi quốc gia. Phải thông qua Nhà nước, thì những cam kết quốc tế về quyền con người mới hình thành nên những địa vị pháp lý của con người, đồng thời quyền con người chỉ được bảo đảm khi được quy định bằng pháp luật và có cơ chế bảo đảm, vận hành bởi pháp luật. Cơ chế bảo đảm quyền con người là những biện pháp nhằm khôi phục quyền, lợi ích khi bị vi phạm, tranh chấp.
Nhà nước bảo đảm quyền con người bằng việc xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Pháp luật quy định về quyền con người được đảm bảo bằng bộ máy, cách thức hoạt động quyền lực của nhà nước, khi cần thiết thì nhà nước sử dụng các biện pháp cưỡng chế 10 trên cơ sở tiến hành các biện pháp giáo dục, thuyết phục, đảm bảo cho nội dung quyền con người, quyền công dân được thực hiện. Công dân bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên nền tảng pháp lý mà nhà nước xây dựng cho họ. Pháp luật là cơ sở, căn cứ để công dân đánh giá, kiểm tra, đối chiếu các hành vi từ phía nhà nước và các thành viên trong xã hội, đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Chỉ có pháp luật, bằng những quy phạm pháp luật cụ thể, chặt chẽ mới tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc để mọi người chống lại các hành vi xâm hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, việc giải quyết vụ án hình sự không thể tách rời vấn đề bảo đảm quyền con người, đặc biệt là quyền của người bị buộc tội. Bởi lẽ để buộc tội và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người phải dựa trên những căn cứ luật định và phải do những người, những cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để nhằm mục đích không để lọt tội phạm đồng thời đảm bảo không làm oan người vô tội. Việc bảo đảm QCN của người bị buộc tội trong TTHS không chỉ là sự ghi nhận về mặt pháp lý các QCN của người bị buộc tội trong TTHS, bảo vệ và bảo đảm thực thi các quyền đó trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự.
Bảo đảm quyền con người bị buộc tội phải là sự bảo đảm cho các chủ thể mang quyền được thực hiện đầy đủ và hợp pháp các quyền được đề cập trong các quy định của pháp luật. Đào Thị Mai Phương, Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự đối với người bị tạm giữ, tạm giam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Vì vậy, theo tác giả. “Bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội chính là các biện pháp tác động bằng pháp luật nhằm ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi vi phạm quyền con người của người bị buộc tội và khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại”.
Nội dung bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội 1. Người bị buộc tội và quyền của người bị buộc tội theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Người bị buộc tội được quy định tại Điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015, theo đó: Người bị buôc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo[5]. Nhằm tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền của người bị buộc tội, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã quy định rõ tại các Điều 58,59,60,61; cụ thể: - Người bị bắt Pháp luật hiện hành không định nghĩa thế nào là người bị bắt, tuy nhiên, trên thực tế, người bị bắt là người có dấu hiệu thực hiện hành vi phạm tội, bị cơ quan có thẩm quyền (VKS, TA, trừ trường hợp phạm tội quả tang) ra quyết định bắt giữ theo quy định pháp luật. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.
Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt là người bị nghi phạm tội vì vậy lời khai ban đầu của họ có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định lý do họ bị giữ, bị bắt và góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Theo điểm g, khoản 1 Điều 58 BLTTHS 2015 thì người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa. Quy định này là cần thiết và có ý nghĩa đối với việc bảo đảm quyền con người của người bị giữ trong TTHS.