phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu được chia thành 3 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về bảo đảm thực hiện các mục tiêu dự án Comment [t3]: Bảo đảm thực hiện …. ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn bền vững các tỉnh miển núi phía Bắc Chƣơng 2: Thực trạng bảo đảm thực hiện các mục tiêu dự án ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn bền vững các tỉnh miển núi phía Bắc Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện các mục tiêu dự án ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn bền vững các tỉnh miền núi phía Bắc. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU DỰ ÁN ODA CHO PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN BỀN VỮNG CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC 1.1 Dự án ODA trong việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn các tỉnh miền núi phía Bắc 1.1 Đặc điểm địa lý và kinh tế xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc 1.1 Đặc điểm địa lý hành chính các tỉnh miền núi phía Bắc Các tỉnh miền núi phía Bắc có các đặc điểm địa lý hành chính như sau: Địa hình các tỉnh miền núi phía Bắc rất đa dạng, trải dài từ những vùng cao nguyên gợn sóng đến những ngọn đồi thoải bị phong hóa, hay từ những ngọn núi đá vôi được hình thành với đỉnh nhọn cho đến những ngọn núi với độ cao lên đến 2,450m so với mặt nước biển. Đá kiến tạo nên núi thường là trầm tích, khác biệt từ độ bền vững cho đến độ phong hóa.
Thông thường, do đá vôi có khả năng kháng phong hóa tốt hơn nên phổ biến hơn, tồn tại dưới dạng những triền đồi dốc đứng hùng vĩ. Những loại đá khác dễ bị phong hóa hơn lại hình thành những triền đồi thoải. Những dạng đồi thoải này thường có cấu tạo là một lõi đá phong hóa (đá regolith) được bao phủ trong một lớp đất dày được hình thành thông qua một quá trình phong hóa liên tiếp. Nằm giữa núi và đồi là những đồng bằng bị rửa trôi và chịu lũ nằm trên nền thung lũng, bao gồm các loại đất được phù sa bồi tích rất màu mỡ.
Các thung lũng với hai bên sườn núi dốc đứng và nền thung lũng hẹp thường hạn chế cơ hội phát triển thành đất canh tác nông nghiệp. Kết quả là, nhiều người dân có nguồn sinh kế đa dạng phụ thêm cho cho vụ lúa không đủ sống bằng cách thu hoạch thêm các sản phẩm từ rừng, nhưng nguồn thu này cũng không ổn định. [20] Càng lên cao về phía Tây và phía Bắc của vùng dự án với mô hình thoát 8 nước thường chảy xuôi về phía Tây nam vào vịnh Bắc Bộ qua lưu vực sông Hồng. Các dòng sông thường dốc đứng và dòng chảy xiết vào mùa mưa nhưng giảm cường độ tại các lưu vực cao dẫn tới việc giảm lưu lượng dòng chảy vào mùa khô, nên cần chú trọng vào việc tích trữ nước vào các hồ chứa nhằm duy trì dòng chảy liên tục vào mùa khô.
Địa hình núi dốc đứng tạo cơ hội tốt cho việc xây dựng trạm phát điện, hướng mà Chính phủ hiện nay đang tích cực theo đuổi. Gần về phía bờ biển, các dòng sông ngày càng mở rộng hình thành các con sông thực thụ và quanh co uốn khúc hơn qua các bãi sông thuộc vùng đồng bằng khá rộng lớn nơi việc tiêu thoát nước trở thành vấn đề vào mùa mưa vì rất nhiều công trình được xây dựng đã phá vỡ các dòng thoát nước tự nhiên đồng thời lượng mưa với tần số và cường độ lớn thường gây ra lũ lụt ở diện rộng tại khu vực liền kề các dòng sông bao trọn các khu vực đồng bằng khá lớn, đó cũng chính là diện tích đất canh tác đạt năng suất cao nhất Việt Nam. [20] Khí hậu rất đa dạng, từ nóng ẩm tại những vùng thấp trải dài về phía đông cho đến khí hậu ôn hòa hơn tại các vùng núi. Lượng mưa chủ yếu chịu ảnh hưởng từ gió mùa phía nam, khi gió đông thổi về nam mang theo không khí ẩm tạo nên mưa lớn, đạt đỉnh điểm từ tháng 7 đến tháng 8.
Một loại gió mùa phía bắc cũng có thể xuất hiện vào khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 4, mang theo mây, mưa nhẹ và không khí mát hơn. Lượng mưa đặc biệt phụ thuộc vào địa điểm khu vực và bị ảnh hưởng bởi địa hình. Tại một số nơi, những triền dốc khiến gió nổi lên và hơi ẩm ngưng tụ rồi rơi xuống tạo mưa, hình thành những vùng vi khí hậu ẩm hơn rất nhiều, cũng như hình thành các vùng mưa theo chiều gió thổi. Lượng mưa tại mỗi vùng có sự chênh lệch đáng kể, từ khoảng 1.500 mm/năm cho đến gần 4.000 mm tại một số nơi [20] Trên địa bàn 15 tỉnh tham gia dự án, tổng cộng có 126 huyện và 2.391 xã nông thôn, với khoảng 28.000 thôn và hơn 2,1 triệu hộ dân nông thôn.
Quy mô trung bình ước tính của một hộ dân là khoảng 4,6 người [20] 9 Bảng 1.1: Các đơn vị hành chính tại 15 tỉnh miền núi phía Bắc Số làng/thôn Số người Dân số Nông Số Huyện Số Xã Nông Số Hộ gia đình khu vực trung binh thôn Nông thôn thôn Nông thôn Nông thôn mỗi Hộ gia (nghìn) Số Số Số (nghìn) (người/hộ) Hà Giang 626 10 181 1,798 116. Đặc điểm về kinh tế xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc Đặc điểm về kinh tế xã hội của các tỉnh miền núi phía Bắc có một vài đặc trưng như sau: Nhìn chung về mặt kinh tế-xã hội, vùng này khác biệt hẳn so với các vùng còn lại của đất nước ở những khía cạnh: năm 2009 mật độ dân cư thấp với 111 người/km² so với mật độ dân cư trên toàn quốc là 231 người/km²; chiếm đa số là người dân tộc thiểu số với 49,6% số chủ hộ nông thôn sống ở đây đều thuộc một tộc người dân tộc thiểu số nào đó so với tỷ lệ này trên toàn quốc chỉ là 12%; cơ sở hạ tầng kém phát triển – chỉ có khoảng 8% tổng diện tích đất nông nghiệp thuộc khu vực Đông Bắc và 23% thuộc khu vực Tây Bắc được tưới tiêu. Điều kiện sử dụng nước sạch và các hệ thống vệ sinh cho đồng bào dân tộc thiểu số rất hạn chế, với 19% số dân được sử dụng nước sạch trong khi đối với người Kinh và người Hoa thì tỷ lệ này là 36%. Hệ thống đường nông thôn đã hình thành, song hiện trạng những tuyến đường này vẫn là trở ngại lớn với sự phát triển kinh tế-xã hội của vùng; mức độ đô thị hóa thấp chỉ có 16% số dân các tỉnh miền núi phía Bắc sống ở các khu vực thành thị, trong khi tỷ lệ này trên toàn quốc là 23%; tỷ lệ phụ thuộc vào nông nghiệp 10 chiếm khoảng 42% tổng GDP khu vực miền núi so với cả nước là 24%; tình trạng nghèo đói cao ước tính đạt mức 49% (các tỉnh Tây Bắc), mức độ đói nghèo là cao hơn bất cứ vùng nào khác tại Việt Nam, trong khi đó các tỉnh Đông Bắc khá hơn đáng kể với tỷ lệ đói nghèo là 25%, song vẫn lớn hơn rất nhiều so với tỷ lệ 16% trên toàn quốc mối liên hệ hữu cơ giữa đói nghèo và người dân tộc thiểu số [20] 1.
Vai trò của hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn trong việc phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh miền núi phía Bắc. Phát triển kinh tế Các cơ sở hạ tầng như: đường, trường, trạm xá, hệ thống thủy lợi, hệ thống nước sạch, hệ thống đê kè, hệ thống chợ chính là nhân tố căn bản trong phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi mà cơ sở hạ tầng kém phát triển, điều kiện địa lý tự nhiên khó khăn. Đường giao thông nông thôn có thể trực tiếp tạo ra các cơ hội làm ăn kinh tế cho người nghèo thông qua việc tạo công ăn việc làm trong các khâu xây dựng và duy tu cơ sở hạ tầng, cung cấp các dịch vụ giao thông nông thôn, cải thiện các điều kiện và cơ hội để tiếp thị các hàng hóa và dịch vụ, giảm bớt giá thành đầu vào, mở ra các cơ hội tại các thị trường mới, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ, đường giao thông nông thôn cũng cải thiện sự tiếp cận tới các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, chăm sóc sức khỏe, và tạo ra nhiều cơ hội khác về mặt xã hội. Ngược lại, Chính phủ cũng dễ tiếp cận tới người nghèo hơn.
Tỷ lệ đói nghèo cao tại khu vực miền núi phía Bắc do một phần nguyên nhân từ việc hệ thống chợ kém phát triển, từ đó hạn chế các cơ hội tạo thu nhập, hạn chế đầu vào và động lực tăng sản lượng nông nghiệp và/hoặc hạn chế khả năng tăng giá hàng tiêu dùng thiết yếu cơ bản. Việc xây dựng hoặc cải tạo các chợ nông thôn được nhìn nhận như là yếu tố then chốt nhằm giải quyết các vấn đề này và giảm nghèo nói chung. Những khu chợ chính tại những vùng nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện thị trường nông sản bởi hệ thống chợ: cung cấp nơi nông dân có thể gặp gỡ với các thương gia, gia tăng việc cạnh tranh bán lẻ do cung cấp 11 nơi thuận tiện cho nông dân gặp gỡ người tiêu dùng; nâng cao vệ sinh an toàn thực phẩm, nếu các hoạt động thị trường hiện tại đang được tiến hành trong tình trạng mất vệ sinh; giảm việc mất mát sau thu hoạch bởi có thể bảo vệ nông sản tránh được nắng mưa trực tiếp,. Hệ thống tưới tiêu thủy lợi, đê kè đã cung cấp nước tưới cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng vật nuôi và cải thiện kinh tế các hộ nông dân.
Hơn nữa, các hệ thống này cũng góp phần bảo vệ nhà, hoa màu, vật nuôi trước thiên tai. Ngoài tác động to lớn tới sức khoẻ của gia đình, các hệ thống cung cấp nước sinh hoạt còn giảm đáng kể quỹ thời gian, đặc biệt là của phụ nữ, dùng cho việc gánh nước sinh hoạt, dành nhiều thời gian hơn cho phát triển kinh tế gia đình. Về phát triển xã hội Thứ nhất, cơ sở hạ tầng giúp giảm tỷ lệ mù chữ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng đường giao thông nông thôn, trường học sẽ tạo điều kiện cho các em nhỏ có cơ hội được tới trường.
Thời gian đi lại được giảm đáng kể và tránh được nguy hiểm khi các e phải học mà điều kiện về đường xá không an toàn, đặc biệt trong mùa mưa lũ sạt lở đất.