Chương 1: Vài nét về bản sắc văn hoá dân tộc Dao và nhà thơ Dao Bàn Tài Đoàn Chương 2: Bàn Tài Đoàn - Tiếng nói tâm hồn đích thực của người Dao Chương 3: Một nghệ thuật thơ đậm bản sắc Dao Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 10 http://www.v PHẦN II: NỘI DUNG CHƢƠNG 1 VÀI NÉT VỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC DAO VÀ NHÀ THƠ BÀN TÀI ĐOÀN 1. Về khái niệm bản sắc văn hoá và bản sắc văn hoá trong thơ 1. Vài nét về khái niệm về bản sắc văn hoá Nghiên cứu về bản sắc văn hoá trong văn học không thể không nói đến khái niệm văn hoá. Hiện nay như chúng ta biết đã có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về văn hoá ( Người ta đã dẫn ra tới hơn 400 định nghĩa về khái niệm này).
Chúng tôi chỉ xin đưa ra một số định nghĩa – mà theo chúng tôi là khá đầy đủ và có thể căn cứ vào đó để áp dụng trong quá trình nghiên cứu vào một trường hợp thơ cụ thể này. UNESCO đã định nghĩa về bản sắc văn hoá như sau: “ Văn hoá là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và vật chất, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng” [ 32, tr.GS, viện sĩ Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hoá Việt Nam đã khẳng định: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [41,tr. Trong cuốn Tìm hiểu đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của người Việt (Trong sự so sánh với dân tộc khác) tác giả Nguyễn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 11 http://www.v Đức Tồn cũng cho rằng văn hoá gồm có bốn thành tố cơ bản như: “Văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức cộng đồng, văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hoá ứng xử với môi trường xã hội” [43,tr.40] Có thể thấy, khái niệm văn hoá mang rất nhiều nghĩa.
Trong tiếng Việt thì văn hoá có nghĩa là trình độ văn hoá, nếp sống văn hoá. Nó cũng còn được dùng để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn nào đó trong lịch sử theo nghĩa chuyên biệt, nhưng theo nghĩa rộng thì văn hoá bao gồm tất cả những gì thuộc về tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống .những giá trị về tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Vậy còn khái niệm bản sắc văn hoá - một khái niệm mang tính công cụ trong công trình nghiên cứu của chúng tôi - sẽ được hiểu như thế nào? Trong cuốn Bách khoa toàn thư (của Liên Xô) khi bàn về bản sắc văn hoá các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ “ Mỗi dân tộc có đặc tính của mình, chỉ riêng mình mới có, còn các dân tộc khác thì không có” [36,tr. Vì vậy, khi nói đến văn hoá là người ta nghĩ ngay đến tính chất ổn định, bất biến của nó trong đời sống của con người, trong quá trình phát triển của lịch sử, tuy nhiên nó cũng chỉ mang tính tương đối cố định.
Mỗi một dân tộc, một quốc gia trên thế giới đều chứa đựng trong nó những yếu tố văn hoá riêng, chính những yếu tố riêng ấy đã tạo ra những nền văn hoá riêng của dân tộc đó, quốc gia đó. Trong quá trình giao lưu văn hoá giữa các dân tộc, các quốc gia trên thế giới chúng ta thấy một điều đó là: giữa các nền văn hoá đó mặc dù có những điểm riêng, song giữa chúng có nhiều điểm tương đồng. Nhà thơ Nông Quốc Chấn khi nghiên cứu về vấn đề bản sắc văn hoá cũng đã có những nhận định khá rõ về vấn đề này: “ Bản sắc văn hoá Việt Nam bao gồm nhiều nét đặc trưng. Có nét chung trong văn hoá người Việt (còn gọi là người Kinh), có những nét riêng trong văn hoá các dân tộc thiểu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 12 http://www.
Những nét ấy biểu hiện trong cách lao động, cách sống, cách kiến trúc, nhà cửa, cách ứng xử giữa người với người…những nét riêng ấy không mâu thuẫn với nét chung; nó đang có sự hài hoà” [17,tr. Giáo sư Phan Ngọc cũng đã đưa ra một khái niệm tương đối đầy đủ về văn hoá và bản sắc văn hoá dân tộc: “Nói tới bản sắc văn hoá tức là nói đến cái mặt bất biến của văn hoá trong quá trình phát triển của lịch sử” [26,tr. Có thể thấy văn hoá và bản sắc văn hoá vốn đã được định hình một cách khá bền vững. Tuy nhiên, chúng ta cũng hiểu rằng tính bền vững đó chỉ mang tính chất tương đối mà thôi.
Mỗi một quốc gia, mỗi một dân tộc, đều có văn hoá riêng và thể hiện bản sắc văn hoá của dân tộc mình, bởi chúng ta thấy không một quốc gia, một dân tộc nào lại mang trên mình một nền văn hoá chung chung, hoặc nền văn hoá lai căng pha trộn của các dân tộc, quốc gia khác nhau trên thế giới, bởi nền văn hoá ấy phải gắn liền với sự hình thành và phát triển của một dân tộc, một quốc gia. Những nét đặc trưng văn hoá ấy được biểu hiện rất khác nhau, nhưng nó là ngôn ngữ dân tộc, bởi nó là phương tiện để thơ ca phản ánh văn hoá và bản sắc văn hoá của dân tộc mình. Như vậy, bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam “là cái biểu hiện tập trung diện mạo dân tộc, cái để nhận diện một dân tộc” [32,tr. Trong cuốn Giáo trình lý luận văn học đã nhận định: “Mường, Mán, Tày, Nùng, Ê đê, Gia rai…Các tộc người này cũng có văn hoá, tiếng nói riêng, giàu bản sắc” [18,tr.
Như vậy, có thể thấy bên cạnh cái chung thì bản sắc văn hoá dân tộc thiểu số lại có những đặc điểm riêng, đặc điểm riêng ấy là do môi trường tự nhiên, xã hội đem đến cho các dân tộc thiểu số Việt Nam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 13 http://www.v Khi nói tới bản sắc văn hoá dân tộc là nói đến “Hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo là tiếng nói dân tộc, là tâm lý, nếp tư duy, là phong tục tập quán, là hình thức nghệ thuật truyền thống” [32,tr. Có thể nói, bản sắc dân tộc vừa là cái chung (của dân tộc) vừa là cái riêng (sự sáng tạo của người nghệ sĩ) thông qua ý thức dân tộc nên nó mang đậm màu sắc dân tộc và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Vì vậy, khi đi nghiên cứu bản sắc văn hoá của các dân tộc Việt Nam là chúng ta phải đi nghiên cứu những cái biểu hiện cụ thể tập trung miêu tả diện mạo của dân tộc để từ đó nhận diện ra được cái tiêu biểu nhất của dân tộc đó.
Tuy vậy, bên cạnh những cái chung đó thì mỗi dân tộc thiểu số Việt Nam lại có những đặc điểm riêng tạo nên sự đa dạng hoá về văn hoá cho các dân tộc Việt. Các dân tộc ở Việt Nam, mặc dù mỗi một dân tộc có một nguồn gốc lịch sử khác nhau, tiếng nói, chữ viết, phong tục, tập quán, trình độ phát triển xã hội không đồng đều nhưng trong quá trình chung sống, tiếp xúc lâu dài với nhau họ đã tạo ra được những đặc điểm chung về văn hoá thống nhất, tồn tại bên cạnh những đặc điểm riêng của từng dân tộc. Những nét đặc trưng về văn hoá ấy được biểu hiện rất khác nhau ở mỗi một tộc người, nhưng trước hết là ngôn ngữ dân tộc, là các phong tục tập quán, là môi trường sống và lối sống của mỗi một dân tộc. Vậy qua những tìm hiểu về văn hoá và bản sắc văn hoá đã nêu ở trên, chúng ta thấy rằng bản sắc văn hoá không phải là một vấn đề chung chung trừu tượng mà nó chính là cách để thể hiện tâm hồn, thể hiện tính cách của mỗi một dân tộc qua cách cảm nhận, cách suy nghĩ, cách nói, cách viết của riêng mỗi nhà văn, đồng thời các nhà văn cũng luôn cố gắng thể hiện một cách sáng tạo những truyền thống văn hoá của chính dân tộc mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 14 http://www. Bản sắc văn hoá trong văn học nói chung, trong thơ ca nói riêng Khi nghiên cứu về bản sắc văn hoá trong văn học nói chung và trong thơ ca nói riêng các nhà nghiên cứu văn học đều có chung một nhận định là: Bản sắc dân tộc được biểu hiện ở đề tài, chủ đề và phương thức biểu hiện của tác phẩm. Trước hết bản sắc văn hoá “Được thể hiện ở đề tài, chủ đề của tác phẩm văn học nói chung và trong thơ ca nói riêng”[16, tr259]. Như chúng ta đã biết “Đề tài là khái niệm chỉ các loại hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học.
Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm” [16,tr.259] còn “chủ đề là vấn đề trung tâm mà tác giả nêu lên, đặt ra nội dung cụ thể của tác phẩm văn học”(36,Tr. Như vậy, chúng ta thấy chủ đề và đề tài là vấn đề cốt lõi của của một tác phẩm, đồng thời tự bản thân nó phần nào đã thể hiện được cá tính sáng tạo, chiều sâu tư tưởng, khả năng nhận biết và nắm bắt cuộc sống của nhà văn. Bởi vậy, mỗi tác Văn học ra đời đều là tiếng nói riêng của tác giả. Tiếng nói ấy nó được cất lên từ những biểu hiện cụ thể trong đời sống vật chất, đời sống tinh thần.
Có bao nhiêu hiện tượng trong đời sống tự nhiên thì có bấy nhiêu đề tài được phản ánh trong văn học. Nhưng ở mỗi một đề tài thì mỗi nhà văn lại có cách nhìn, cách phản ánh khác nhau. Chẳng hạn, cùng về đề tài thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ những mỗi một nhà thơ lại có cách thể hiện khác nhau, trong thơ Hồ Xuân Hương đó là tiếng nói đòi quyền được hưởng cuộc sống hạnh phúc riêng tư của người phụ nữ trong xã hội cũ, song trong thơ Nguyễn Du là tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến đã chà đạp lên thân phận của những người phụ nữ trong xã hội cũ. Tuy nhiên bản sắc văn hoá dân tộc không phải chỉ được thể hiện trong đề tài dân tộc, cái quyết định là chủ đề tác phẩm.