CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan 1. Những công trình nghiên cứu ngoài nước 1. Những nghiên cứu về phát triển tư duy logic Có thể nói dạy và học ngày nay về cơ bản là dạy cách tư duy, học cách tư duy.
Mục đích cao nhất của việc dạy học là phát triển năng lực tư duy cho người học. Kiến thức học lâu ngày có thể quên, nhưng năng lực tư duy là cái sẽ còn lại sau quá trình học tập của mỗi người học. Có nhiều nhà nghiên cứu về nhận thức, về trí tuệ, về quá trình tư duy, về các loại hình tư duy, bồi dưỡng và phát triển tư duy cho người học,… Nghiên cứu về lĩnh vực tư duy và phát triển tư duy được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như Piaget, Bruner, Vygostky,.Piaget đã nghiên cứu và trình bày lý thuyết về sự phát triển trí tuệ hay còn gọi là lí thuyết phát sinh nhận thức. Theo thuyết này, quá trình phát triển nhận thức của con người trải qua bốn giai đoạn: (1) Giai đoạn cảm giác - vận động (0-2 tuổi); Giai đoạn tiền thao tác cụ thể (2-7 tuổi); (3) Giai đoạn thao tác cụ thể (7-11 tuổi); (4) Giai đoạn thao tác hình thức (từ 11 tuổi trở lên).
Theo Piaget: Một đứa trẻ chỉ có thể học được điều thích hợp với giai đoạn tư duy hiện có [32] .Ông cho rằng, một vấn đề phải có một giải pháp, nhưng điều này đòi hỏi một loạt các quy trình. Hoạt động vận hành tinh thần của một người trong việc giải quyết vấn đề được coi là một tư duy logic [51] , nhưng cũng có thể nói rằng một tư duy logic là khả năng giải quyết vấn đề một cách khoa học [56] J.Bruner nghiên cứu về học tập khám phá, về vấn đề kiến tạo hay siêu nhận thức,…có trình bày về ngôn ngữ và vấn đề phát triển tư duy: Tư duy 7 Luan van dẫn đến ngôn ngữ, nhưng xét cho cùng, ngôn ngữ chịu trách nhiệm về việc phát triển tư duy theo hướng tích cực [32] .Vưgôtxky với lí thuyết học tập trong ma trận xã hội (nói theo [14] , tr. 140), ông cho rằng ngôn ngữ đóng vai trò trung tâm trong phát triển nhận thức, là một công cụ văn hoá, được coi là trung gian giữa tư duy và học tập ([14] , tr. Thang phân loại tư duy của Bloom đã được sử dụng rộng rãi trong việc thiết kế chương trình học và mục tiêu học tập, kiểm tra đánh giá,.
Qua đó đánh giá được hành vi cũng như khả năng của người học thông qua mức độ khả năng tư duy của họ [57]. Các thuật ngữ đã được cập nhật gần đây đều bao gồm sáu cấp độ sau đây của học tập. 6 cấp này có thể được sử dụng để cấu trúc các mục tiêu học tập, bài học và đánh giá năng lực tư duy của người học, được thể hiện trong tháp phân loại như dưới đây: Hình 1 Ghi nhớ (Remember): Lấy, nhận ra và nhớ lại những kiến thức có liên quan từ trí nhớ dài hạn. Hiểu (Understand): Xây dựng ý nghĩa từ các thông điệp bằng miệng, viết và đồ họa bằng cách diễn giải, minh hoạ, phân loại, tóm tắt, suy diễn, so sánh và giải thích.
Vận dụng (Applying) Tiến hành hoặc sử dụng một phương pháp, kĩ thuật vào giải quyết một số vấn đề cụ thể. 8 Luan van Phân tích (Analyze): Chia tài liệu thành các bộ phận, xác định các phần liên quan đến nhau như thế nào và với cấu trúc hoặc mục đích chung thông qua việc phân biệt, tổ chức và phân bổ. Đánh giá (Evaluate): Đánh giá dựa trên tiêu chuẩn và tiêu chuẩn thông qua kiểm tra và phê bình. Sáng tạo (Create): Đưa các phần tử lại với nhau để tạo thành một toàn bộ mạch lạc hoặc chức năng; tổ chức lại các yếu tố thành một mô hình hoặc cấu trúc mới thông qua việc tạo ra, lập kế hoạch mới.
Giống các hệ thống phân loại khác, Bloom có thứ bậc, có nghĩa là học ở cấp cao hơn phụ thuộc vào việc có được kiến thức và kĩ năng tiên quyết ở cấp thấp hơn. Định loại phân loại của Bloom là một công cụ mạnh để giúp phát triển các mục tiêu học tập, bởi vì nó giải thích quá trình học tập: +) Trước khi bạn có thể hiểu một khái niệm, bạn phải nhớ nó; +) Để áp dụng một khái niệm, trước hết bạn phải hiểu nó: +) Để đánh giá quá trình, bạn phải phân tích nó; +) Để tạo ra một kết luận chính xác, bạn phải hoàn thành một đánh giá toàn diện. Với mục tiêu giúp con người sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan đã đưa ra khái niệm và cách sử dụng bản đồ tư duy (Mind Map) để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này. Tony Buzan, quan niệm “Bản đồ tư duy là biểu hiện của tư duy mở rộng, cho nên nó là chức năng tự nhiên của tư duy.
Nó là kĩ thuật đồ họa đóng vai trò chiếc khóa vạn năng để khai thác tiềm năng của bộ não. Bản đồ tư duy gồm 4 đặc điểm chính: đối tượng nhận thức được tóm lược trong một hình ảnh trung tâm; từ hình ảnh trung tâm, chủ đề chính của đối tượng tỏa rộng thành các nhánh; các nhánh được cấu thành từ một hình ảnh chủ đạo hay từ khóa trên một dòng liên kết. Những vấn đề phụ cũng được biểu thị bởi các nhánh gắn kết với các nhánh có thứ bậc cao hơn; các nhánh tạo thành một cấu trúc nút liên kết nhau. Cho đến nay, bản đồ tư duy đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, ứng dụng trong nhiều 9 Luan van lĩnh vực của cuộc sống và giáo dục.
Do đó, có nhiều quan niệm, cách thức sáng tạo một bản đồ tư duy nhưng chúng đều có một số điểm giống nhau về hình thức và công dụng. Về hình thức, các bản đồ tư duy đều sử dụng màu sắc, có một cấu trúc cơ bản được phát triển rộng ra từ trung tâm, dùng các đường thẳng hoặc cong, các biểu tượng, từ ngữ ngắn gọn kết hợp hình ảnh để diễn đạt sinh động, đầy đủ các thông tin dài. Một số nghiên cứu về tư duy, kĩ năng tư duy được thực hiện như: Tại sao phải dạy tư duy (R. Nickerson); các hình thức tư duy: quan điểm tích hợp trong việc dạy các kĩ năng tư duy (D.N Perkins); Dạy tư duy: Mô hình phát triển nhằm đưa các kỹ năng tư duy vào quá trình giảng dạy (R.
Swartz), đánh giá các kĩ năng tư duy tại lớp học (J. Một trong những nhiệm vụ dạy trẻ em tư duy là việc rèn luyện khả năng vận dụng kinh nghiệm đã có vào những hoàn cảnh mới và tư duy của trẻ em phát triển thông qua quá trình giao tiếp với thế giới xung quanh (Fiser). Về vấn đề dạy học phát triển tư duy, có thể thấy được hai hướng cơ bản: Thứ nhất, xây dựng chương trình riêng để dạy tư duy cho học sinh. Các chương trình này thường được thiết kế với mục tiêu phát triển một loại hình tư duy nào đó, phục vụ cho một loại đối tượng cụ thể, thông qua các công cụ hay một hoặc một vài môn học nào đó.
Chẳng hạn như phát triển tư duy sáng tạo trong dạy học môn Toán, phát triển tư duy phản biện (phê phán) trong dạy học môn Ngữ văn, hay ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều trung tâm phát triển tư duy trong dạy học cho trẻ như: Trung tâm phát triển tư duy KOM, Trung tâm Toán tư duy Mathnasium, Trung tâm Toán tư duy POMath… Tuy nhiên, cần cân nhắc về thời gian, thời lượng dành cho các chương trình dạng này. Thời gian thực hiện các chương trình tương đối dài cũng như không có chương trình nào có thể phù hợp với mọi lứa tuổi, mọi đối tượng,. là những thách thức, khó khăn khi triển khai các chương trình nhằm rèn luyện kĩ năng tư duy cho học sinh. 10 Luan van Thứ hai, dạy học góp phần phát triển tư duy trong quá trình dạy học các môn học trong nhà trường.
Hướng này không yêu cầu phải có thêm môn học mới, tránh phải dạy một số kiến thức về tư duy một cách riêng biệt nhưng cũng tạo phần nào áp lực cho học sinh, giáo viên (phải làm việc nhiều hơn, trong quá trình soạn giáo án, chương trình, …). Nghiên cứu về tư duy logic trong dạy học Toán Valanides (1996) cho rằng, bất kì bước nào được phát triển để giải quyết các vấn đề toán học có thể phát triển một số khả năng tư duy logic [59] Trong nghiên cứu của mình, Akhsanul In’am chỉ ra rằng: không có sự khác biệt lớn của học sinh nam hay nữ đến khả năng tư duy logic, nhưng ông chỉ ra rằng “Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khả năng tư duy logic quyết định sự thành công trong quá trình học tập, có nghĩa là khả năng tư duy logic là khác nhau.” [52] Trong nghiên cứu trình bày tại [52] , Akhsanul In’am cũng chỉ ra rằng: Thông qua hình học, học sinh có thể học cách giải quyết các vấn đề bằng cách sử dụng một loạt các hoạt động có trật tự và các lí do (cơ sở) tốt trong việc đưa ra các phát biểu bằng cách dựa trên các định nghĩa, định lí hoặc các định đề. Điều này góp phần rèn luyện cũng như phát triển tư duy logic. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng có thể củng cố kết quả nghiên cứu nói rằng khả năng tư duy logic này có thể dẫn đến cách tốt nhất để phát triển khái niệm (khái niệm toán học).
Tư duy logic là một kĩ năng được coi là quan trọng để phát triển từ bậc tiểu học đến đại học. Süleyman YAMAN (2005) chỉ ra trong nghiên cứu của mình [57] rằng: tác động của phương pháp tổ chức học dựa trên vấn đề (ở Việt Nam gọi là phương pháp dạy học theo vấn đề, hay phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề) (problem-based learning, viết tắt là PBL) về phát triển kĩ năng tư duy logic cho học sinh là rất tốt. Tư duy logic là một kĩ năng được xác định trong giai đoạn của quá trình trừu tượng trong giai đoạn phát triển nhận thức của Piaget. Với kĩ năng tư duy logic, người học giải quyết vấn đề bằng cách thực hiện 11 Luan van các hoạt động tinh thần (trí óc) hoặc các quy tắc khác nhau bằng cách làm một số trừu tượng và khái quát hoá.
Trong cách tiếp cận PBL, học sinh hiểu các khái niệm liên quan một cách logic và giải quyết vấn đề một cách dễ dàng bằng cách liên kết giữa kiến thức trước và kiến thức sau vào quá trình học.