CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH PROFOR 1.1 Giới thiệu chung 1.1 Thông tin chung về công ty Tên: Công ty TNHH Profor Việt Nam. Loại hình doanh nghiệp: Công ty TNHH 2 thành viên trở lên ngoài Nhà nước. Slogan: ”Leading in Forging”. Logo công ty: Hình 1.1 Logo công ty Ý nghĩa tên gọi Profor: Professional Forging - Rèn chuyên nghiệp với mong muốn trở thành công ty về gia công cơ khí chuyên nghiệp.
Địa chỉ: 29D, Tổ 8, huyện Trảng Bom, Đồng Nai, Việt Nam.vn Thị trường: Toàn quốc trong đó đặc biệt là Trung Quốc, Mỹ.2 Lịch sử hình thành Vào tháng 4 năm 2006, bắt đầu của Profor là một xưởng cơ khí trực thuộc huyện Trảng Bom với tên là công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Tú Tài Phát và là một trong những nhà sản xuất rèn nóng chuyên nghiệp nhất. Đến tháng 09 năm 2012 đổi tên thành công ty TNHH Tú Tài Phát và được cấp chứng nhận ISO 9001:2015 vào tháng 06 năm 2018. Trang 13 Qua một thời gian xây dựng và phát triển, công ty đã đổi tên thành công ty TNHH Profor và mở rộng quy mô nhà máy với diện tích lên đến 4.000m2 vào tháng 7 năm 2020. Xưởng sản xuất của công ty chiếm diện tích 3000m2 trên tổng diện tích chung.
Với sự nỗ lực và mong muốn cống hiến hết mình thì hiện tại Profor đã trở thành một trong những doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam xuất khẩu thành công mặt hàng búa, cờ lê, búa sang một thị trường khó tính nhất Thế giới với những đơn hàng lên tới 80 tỷ - thị trường Mỹ.3 Cơ cấu tổ chức Công ty chia thành 3 cấp bậc, đứng đầu là Tổng giám đốc, kế đến là 3 phòng ban chính: Phòng sản xuất, Phòng kinh doanh, Phòng hành chính. Bên dưới các phòng ban là các bộ phận đảm nhiệm các chức năng và nhiệm vụ khác nhau.2 Sơ đồ tổ chức Nguồn: Tổng hợp của tác giả 1.2 Tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị cốt lõi 1.1 Tầm nhìn Tất cả những gì chúng tôi làm là hướng đến vị trí dẫn đầu thị trường. Chúng tôi luôn làm cho khách hàng bị thuyết phục về độ tin cậy và chất lượng đối với các sản phẩm và dịch vụ của công ty.2 Sứ mệnh Profor cam kết đạt được 100% sự hài lòng của Khách hàng bằng việc đảm bảo "Ngay lần đầu tiên" và tuân thủ các Quy trình Phát triển Đẳng cấp Thế giới.3 Giá trị cốt lõi Respect - Đánh giá cao người khác Công ty luôn thể hiện sự tôn trọng và đánh giá cao đối với các cộng sự, khách hàng và đối tác kinh doanh. Bên cạnh đó việc coi trọng các cá nhân và lắng nghe những ý kiến xung quanh.
Integrity - Được dẫn lối bởi sứ mệnh của chúng tôi Profor luôn hướng đến sự trung thực, chính trực để xây dựng niềm tin giữa các bên liên quan. Quality - Cam kết xuất sắc Nhằm đảm bảo độ tin cậy và chất lượng của sản phẩm/dịch vụ, Profor xem xét từng vấn đề từ góc độ “gemba” nhằm đưa ra giải pháp tối ưu. Bên cạnh chất lượng sản phẩm, Profor hướng đến sự hoàn hảo trong trong những gì đã làm, từ việc cung cấp sản phẩm đến chăm sóc khách hàng. Creativity - Nỗ lực đổi mới Profor thúc đẩy tư duy đón nhận thách thức cho tương lai và làm việc với sự tò mò và đam mê.
Nhằm đáp ứng nhu cầu “gemba” , những sản phẩm/dịch vụ mà chúng tôi cung cấp tạo ra giá trị có ý nghĩa đúng thời điểm. Customer focus - Thỏa mãn với các dịch vụ "WOW" Profor cố gắng hết sức để mang dịch vụ đặc biệt cho khách hàng, hơn hết là mang lại giá trị cho khách hàng và công ty. Thêm vào đó là luôn tận tâm để đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như tôn trọng những cam kết đã thực hiện giữa 2 bên.3 Lĩnh vực kinh doanh và sản phẩm 1.1 Lĩnh vực kinh doanh Profor là một công ty chuyên về thiết kế, chế tạo khuôn mẫu (khuôn dập nóng, khuôn dập nguội, khuôn đúc rót…), gia công chi tiết cơ khí (Phay, tiện…), gia công dập linh kiện cơ khí có độ bền và chính xác cao dùng trong ngành cơ khí chế tạo.2 Sản phẩm Hình 1.3 Sản phẩm công ty Nguồn: Website công ty Hình 1.4 Sản phẩm công ty Nguồn: Website công ty 1.4 Khách hàng của công ty Ưu tiên hàng đầu của công ty là khách hàng. Do đó công ty luôn cố gắng đảm bảo rằng sản phẩm cung cấp với chất lượng cao, độ tin cậy, giao hàng đúng thời hạn và chi phí hoàn chỉnh.
Thị trường trong nước chiếm phần lớn khách hàng tiềm năng của công ty, ngoài ra công ty còn gia công cho các hãng nổi tiếng của Mỹ và Trung Quốc.5 Khách hàng công ty Trang 17 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý thuyết về Lean 2.1 Khái niệm về Lean Lean là một thuật ngữ rất phổ biến trong sản xuất và cả những lĩnh vực khác. Nhưng liệu có bao nhiêu người hiểu về Lean, đã triển khai Lean hoặc thuyết phục được lãnh đạo cấp cao theo đuổi Lean trên con đường phát triển của công ty. Chính vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu Lean là gì để có thể tin tưởng Lean và áp dụng một cách hiệu quả. Từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo, tác giả đưa ra một số định nghĩa về Lean như sau: Một số nhà nghiên cứu và thực hành trên khắp Thế giới đã đưa ra các định nghĩa cho Lean như Lean có thể là một cách làm (Storch và Lim, 1999; Howell, 1999), một quá trình (Womack và cộng sự, 1990), một tập hợp các nguyên tắc (Womacket và cộng sự, 1990), một tập hợp các công cụ và kỹ thuật (Bicheno, 2004), một cách tiếp cận (NIST, 2000; Taj và Morosan, 2011), một khái niệm (Naylor và cộng sự, 1999), một triết lý (Liker, 1996; Cox and Blackstone, 1998; Singh, 1998; Comm và Mathaisel, 2000; Liker và Wu, 2000; Alukal, 2003; Holweg, 2007; Shah và Ward, 2007; De Treville và Antonakis, 2006), một hệ thống (Womack and Jones, 1994; Cooper, 1996; Shah and ward, 2007; Hopp and Spearman, 2004), một chương trình (Hallgren và Olhager, 2009), một mô hình sản xuất (Rothstein, 2004; Seth &Gupta, 2005) , một mô hình (Alves và cộng sự, 2012).
Ngoài ra còn một số định nghĩa cụ thể hơn như: Theo Nenni và cộng sự (2014) thì Lean Production (sản xuất tinh gọn) hay Lean Mangement (Quản lý tinh gọn) là một phương pháp tiếp cận trí tuệ mà khi được xem xét một cách tổng thể, có khả năng mang lại trạng thái tinh gọn và đặc biệt là về mặt cạnh tranh trong một công ty. Theo Melton (2005), Lean là một cuộc cách mạng - không chỉ là việc sử dụng các công cụ hay thay đổi một vài bước trong quy trình sản xuất của chúng ta - mà là về sự thay đổi hoàn toàn của các doanh nghiệp - cách chuỗi cung ứng vận hành, cách chỉ đạo của các giám đốc, cách các nhà quản lý quản lý, cách nhân viên - mọi người - tiếp tục công việc hàng ngày của họ. Trang 18 Theo Zahrotun & Taufiq (2018) thì Lean là sự cải tiến liên tục nhằm loại bỏ lãng phí và nâng cao giá trị gia tăng (VA) sản phẩm cả hàng hóa và dịch vụ để cung cấp giá trị cho khách hàng [2]. Sản xuất tinh gọn có thể được định nghĩa là một cách tiếp cận có hệ thống để xác định và loại bỏ lãng phí hoặc không có giá trị gia tăng (NVA) thông qua cải tiến liên tục bằng cách cung cấp sản phẩm (nguyên liệu, WIP và đầu ra) và thông tin bằng cách sử dụng hệ thống kéo hoặc kéo.
Lean là một chuỗi các hành động gia tăng giá trị làm hài lòng những khách hàng sử dụng ít tài nguyên nhất (Cudney & Elrod, 2011; Jasti & Sharma, 2014). Nhìn chung, các định nghĩa trên đều nhấn mạnh Lean tập trung vào những yêu cầu của khách hàng và loại bỏ mọi lãng phí không đáng có (những hoạt động không tạo ra giá trị và không cần thiết) để từ đó nâng cao chất lượng với chi phí rẻ hơn và thời gian sản phẩm đến tay khách hàng cũng sẽ nhanh hơn. Tóm lại, có thể gọi Lean là một mô hình gồm tập hợp các nguyên tắc, các công cụ nhằm cải tiến có hệ thống, tập trung vào việc tạo ra giá trị đứng từ góc nhìn của khách hàng để nhằm loại bỏ những lãng phí trong quá trình cung cấp dịch vụ hay sản xuất để rồi từ đó đáp ứng nhu cầu khách hàng mà không có bất kỳ lãng phí nào thông qua việc cải tiến liên tục quá trình.2 Mục tiêu của Lean Mục tiêu của Lean/sản xuất tinh gọn là xác định giá trị từ quan điểm của khách hàng, xác định bảy lãng phí và loại bỏ lãng phí, phân tích các hoạt động giá trị gia tăng và phi giá trị gia tăng (NVA), kéo dài công việc. Từ đó giảm chi phí, tăng năng suất và phấn đấu cải tiến liên tục (Melton, 2005; Singh và cộng sự, 2010; Cudney và Elrod, 2011; Salonitis và cộng sự, 2017).3 Các nguyên tắc của Lean Nguyên tắc 1: Xác định giá trị từ góc nhìn của khách hàng Theo Sayer & Williams (2007), tiền đề cơ bản cho tất cả các tổ chức Lean, và bước đầu tiên của bất kỳ hoạt động Lean nào, là xác định khách hàng và những gì khách hàng coi trọng.
Trang 19 Khách hàng thực sự muốn gì? Khách hàng muốn gì hôm nay? Khách hàng sẽ muốn gì vào ngày mai? Khách hàng luôn thay đổi - mong muốn của ngày hôm nay trở thành nhu cầu của ngày mai. Công nghệ, thị trường và nhân khẩu học đều thay đổi hành vi của khách hàng. Tất cả những gì cần làm là lắng nghe, thấu hiểu nhu cầu của khách hàng, biết được những sản phẩm mà khách hàng sẵn lòng trả cho chúng để từ đó ta sẽ biết được phải làm như thế nào là phù hợp. Trong bất kỳ ngành sản xuất nào, các hoạt động có thể được phân thành ba thể loại chính (Hines và Rich, 1997).
Các hoạt động không gia tăng giá trị (NVA), các hoạt động không gia tăng giá trị nhưng cần thiết (NNVA) và các hoạt động gia tăng giá trị (VA). NVA là hoạt động không có giá trị cho cả khách hàng cũng như tổ chức. Đây là những điều hoàn toàn lãng phí và do đó cần phải loại bỏ các quy trình không cần thiết. NVA bao gồm xử lý vật liệu không cần thiết, xử lý tồn đọng, thời gian chờ đợi.
NNVA được khách hàng coi là lãng phí nhưng những điều này là cần thiết để tổ chức hoàn thành các quy trình hoạt động. Rất khó để loại bỏ những loại hoạt động này trong thời gian ngắn, nó có thể đòi hỏi những thay đổi lớn đối với các quy trình vận hành hiện tại.