Đặt vấn đề Nuôi trồng thủy sản đã và đang trở thành là ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta. Theo báo cáo của Tổng Cục Thống Kê (www.vn), tổng sản lượng thủy sản năm 2021 ước tính đạt 8. Mô hình nuôi thuỷ sản thâm canh góp phan đáp ứng nhu cầu sản lượng thuỷ sản ngày càng tăng, qua đó có thé giảm áp lực khai thác tự nhiên. Bên cạnh các đối tượng thủy sản xuất khẩu chủ lực của nước ta như cá tra, tôm sú, tôm thẻ, thì cá rô phi cũng được xem là một trong những đối tượng thuỷ sản tiềm năng với những ưu điểm như dé nuôi, tăng trưởng nhanh, sức kháng bệnh cao, thịt trắng, cơ thịt dày và liên kết chặt chẽ (Simões và ctv., 2007; Souza, 2002; Souza va ctv.
Với sự phát triển nhanh chóng mô hình nuôi thâm canh DVTS nói chung và cá rô phi nói riêng, tình trạng thức ăn dư thừa và chat thải của vật nuôi làm cho yếu tố môi trường nước dé bị biến động. Kết quả là làm cho vật nuôi bị căng thang, hệ miễn dich bị suy giảm, từ đó dé man cảm bởi các mam bệnh như ky sinh trùng, vi khuẩn, virus. Hóa chất, kháng sinh đã và đang sử dụng rất phổ biến trong nuôi thuỷ sản nói chung, cá rô phi nói riêng, nhằm phòng và trị bệnh. Tuy nhiên, việc lạm dụng hóa chất, kháng sinh sẽ làm cho cá bị stress, đồng thời có thể tạo ra các biến chủng vi khuẩn mới kháng kháng sinh.
Nhiều nghiên cứu cho thay, sử dụng thuốc kháng sinh trực tiếp dé trị bệnh cá sẽ làm gia tăng mức độ kháng thuốc của vi khuẩn và tồn lưu thuốc trên DVTS, gay ảnh hưởng đến người tiêu dùng và làm giảm chất lượng, sản lượng xuất khẩu. Bên cạnh việc chọn lọc con giống tốt dé cải thiện khả năng tăng trưởng và kháng bệnh, xu hướng hiện tại và tương lai mà người nuôi thủy sản đang áp dụng là việc sử dụng các sản phẩm phụ gia chiết xuất có nguồn gốc từ thiên nhiên bổ sung vào khẩu phần ăn của động vật thuỷ sản, qua đó giúp nâng cao sức đề kháng và khả năng miễn dich của vật nuôi. Một số nghiên cứu đã chứng minh, việc bồ sung chất phụ gia chiết xuất tự nhiên từ các loại thảo mộc và tinh dầu vao thức ăn có ảnh hưởng đáng kế đến năng suất của cá thông qua việc cải thiện tốc độ tăng trưởng, tình trạng miễn dịch và 1 khả năng kháng bệnh (Abdel-Latif và ctv., 2020c, 2020a; Amin va ctv., 2019; Awad và ctv., 2013; Awad và Awaad, 2017; Hoseinifar và ctv. Trong các sản phẩm phụ gia chiết xuất có nguồn gốc từ thiên nhiên kích thích hệ miễn dịch ở cá thì sản phẩm PolygainTM chiết xuất từ mia (Saccharum officinarium) được xem là một trong những sản phẩm chứa một lượng lớn các hợp chất phenolic.
Kết quả phân tích cho thay, trong 1 kg sản phẩm PolygainTM chứa 30.400 mg hợp chất polyphenols, 7.800 mg hợp chất flavonoids và 9.600 mg chất chống oxy hoá. Nghiên cứu của Shimul và ctv. (2018) cho thấy, việc bố sung PolygainTM vào thức ăn đã cải thiện đáng kể ty lệ chuyền đổi thức ăn, tốc độ tăng trưởng và chất lượng sản pham của một sô đôi tượng thuỷ sản như tôm càng xanh, cá tra, cá rô phi. Tuy nhiên, có rat ít nghiên cứu thử nghiệm đánh giá ảnh hưởng của việc bé sung PolygainTM vào thức ăn lên tăng trưởng và khả năng chống chịu stress trên cá rô phi vằn (O.
Do đó, được sự chấp thuận của Ban Chủ Nhiệm Khoa Thuỷ sản, chúng tôi thực hiện đề tài “ANH HUONG CUA VIỆC BO SUNG POLYPHENOL VÀO THỨC ĂN LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ KHẢ NĂNG CHÓNG STRESS TRÊN CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus)”. Muc tiéu dé tai: = Đánh giá anh hưởng của việc b6 sung polyphenol vào thức ăn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá rô phi (Oreochromis niloticus). = Đánh giá hiệu quả bổ sung polyphenol vào thức ăn lên khả năng chống stress và một số chỉ tiêu miễn dịch trên cá rô phi (Oreochromis niloticus). TONG QUAN TAI LIEU 1.
Đặc điểm sinh học 1. Đặc điểm phân loại Cá rô phi thuộc bộ cá vược Perciformes, họ Cichlidae, là loài cá có nguồn gốc từ Châu Phi. Có khoảng 70 loài cá rô phi, hầu hết chúng đều có nguồn gốc từ các nhánh sông của Châu Phi (Buddle, 1984). Theo hệ thống phân loại khoa học cá rô phi vằn được phân loại như sau: Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Perciformes Họ: Cichlidae Chi: Oreochromis Tén tiéng anh: Tilapia Tén tiéng viét: Ca r6 phi van Hình 1.
Cá rô phi van (Oreochromis niloticus) nuôi trong thi nghiệm 3 Có 9 loài cá rô phi được nuôi phổ biến trên thế giới (FAO, 2002). Trong đó các loài mang lại giá trị cao tập trung chủ yếu như cá rô phi sông Nile (Ó. niloticus), cá rô phi Mozambique (O. mossambicus) va cá rô phi xanh (O.
Mặc dù ba loài trên đều được nuôi phô biến nhưng cá rô phi van (O. niloticus) có ưu điểm như lớn nhanh, cơ thịt day, sinh sản chậm nên được nuôi phổ biến hơn và là loài có giá trị xuất khẩu cao (FAO, 2002). Ở Trung Quốc, cá rô phi van là loài được nuôi nhiều nhất, ước tính khoảng 60% là các loài được sản xuất (Gupta va Acosta, 2004). Đặc điểm phân bố Cá rô phi được nuôi đầu tiên tại Kenya vào năm 1924, sau đó được nuôi rộng rãi ở Châu Phi và Châu Mỹ (Gupta và Acosta, 2004).
Cá rô phi đã trở thành một trong những đối tượng cá nuôi quan trọng đứng thứ 2 trên toàn cầu (Shelton, 2002). Cá rô phi là loài rộng muối, chúng có thé sống trong môi trường nước ngọt và lo. Cá rô phi phân bố rộng từ Châu Phi, Indonesia, Philipine, Thái Lan, Malayxia. Đến nay, cá rô phi đã di sang các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và một số nước Đông Nam Á.
Đặc điểm dinh dưỡng Bộ máy tiêu hoá của cá rô phi thích nghi với việc ăn tạp. Miệng chúng khá rộng hướng lên trên, có thé ăn được những môi lớn. Răng hàm ngắn giúp cá bat và giữ mỗi tốt. Lược mang ngắn và khá dày giúp cá lọc tảo dé đàng.
Ruột cá rô phi đài và xếp thành nhiều vòng, đó là đặc điểm của loài cá ăn thực vật (Mai Đình Yên, 1978). Cá rô phi là loài cá ăn tạp thiêng về thực vật. Thức ăn chủ yếu của cá rô phi là tảo và một phần thực vật bậc cao và mùn bã hữu cơ. Ở giai đoạn cá con, từ cá bột lên cá hương, thức ăn chủ yếu là động vật phù du và một ít thực vật phù du.
Từ giai đoạn cá hương đến cá trưởng thành, thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ và thực vật phù du. Cá rô phi có khả năng tiêu hóa các loài tảo xanh, tảo lục mà một số loài cá khác không có khả năng tiêu hoá. Ngoài ra, cá rô phi còn ăn được thức ăn bé sung như cám gạo, bột ngô, các loại phụ phẩm nông nghiệp khác. Đặc biệt, cá rô phi có thé sử dụng rất có hiệu qua thức ăn tinh như: cám gạo, bột ngô, khô dau lạc, đỗ tương, bột cá.
và các phụ phâm 4 nông nghiệp khác. Dinh dưỡng của cá rô phi thay đổi theo từng giai đoạn phát triển. Cá nuôi ở môi trường nước lợ và mặn cho thấy khả năng chuyên hóa thức ăn tốt hơn cá được nuôi ở môi trường nước ngọt. Đặc điểm sinh trưởng Tốc độ sinh trưởng của cá rô phi van (O.
niloticus) thay đôi tùy thuộc vao nhiệt độ, thức ăn và mật độ thả nuôi. Tính từ giai đoạn cá hương lên cá giống, sinh trưởng bình quân đạt 15-20 g/tháng (Thanh, 2012). Cá rô phi van có khả năng chịu nhiệt tốt. Cá có thể thích ứng với khoảng nhiệt độ dao động từ 10 đến 40 °C.
Tuy nhiên, khi nhiệt độ thấp hơn 20 °C, cá ngừng ăn và không sinh sản. Khoảng nhiệt độ thích hợp cho phát triển và sinh sản tốt nằm trong khoảng 26-30 °C. Cá rô phi có thé sinh trưởng tốt trong cả môi trường nước ngọt, lg và mặn. Chúng có thé thích ứng với khoảng độ mặn dao động từ 0-25 ppt.
Cá rô phi có thê chịu đựng được việc thiếu oxy tốt hơn các loài cá khác. Cá có thể tồn tại được khi oxy hòa tan trong môi trường nuôi khoảng 0,3 mg/l. Tuy nhiên, cá sẽ sinh trưởng tốt nhất khi hàm lượng oxy hòa tan trong môi trường nước lớn hơn 2 mg/l. Biến dưỡng, tăng trưởng và khả năng kháng bệnh của cá sẽ giảm nếu hàm lượng oxy hòa tan thấp hơn 1 mg/l.
Cá rô phi có thé chịu đựng được khoảng pH rộng, dao động từ 5-10. Tuy nhiên, khoảng pH tối ưu thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cá nằm trong khoảng 6-9. Về sinh trưởng, cá rô phi đực lớn hơn cá cái do cá cái thành thục khá sớm, sinh sản nhanh từ đó ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cá. Do đó, cần phải khống chế mật độ nuôi, thu hoạch định kỳ trứng và cá bột, nuôi trong lồng lưới không cho cá xuống đáy ao ngăn can cá không làm tổ, thả cá ăn động vật vao ao nuôi, tách riêng đực cái, nuôi mật độ cao nhắm hạn chê cá thành thục và sinh sản, nuôi cá toàn đực.
Đặc điềm sinh sản Cá rô phi sinh sản gần như quanh năm. Trong môi trường nước lợ, chúng sinh nhanh hơn trong môi trường nước ngọt. Khoảng cách giữa hai lần đẻ trứng khoảng 20- 5) 30 ngày. Số trứng trong một lần đẻ phụ thuộc vào kích cỡ cá cái, cá cảng lớn số trứng đẻ ra trong một lần càng nhiều.
Trung bình một cá cái có trọng lượng 200-250 g đẻ được 1. Tuổi thành thục cá rô phi van (O. niloticus) là 6 tháng sau khi nở. Cá rô phi có tập tính làm tổ đẻ ở đáy ao.
Khi sinh sản con đực sẽ dùng đuôi quay bùn làm té đẻ ở chỗ nước sâu 0,3-0,6 m. Đường kính của tổ đẻ phụ thuộc vào kích cỡ con đực. Sau khi làm tổ xong, cá tự ghép đôi và tiến hành đẻ trứng. Con cái sẽ ngậm trứng ấp trong miệng (cá con được giữ trong miệng cho đến khi hết noãn hoàng).
Sau khi hết noãn hoàng, cá con van còn phản xạ đi theo me, gặp nguy hiểm sẽ trốn vào miệng mẹ, phản xạ này mat han khi cá sông tự lập. Trong thời gian ngậm trứng, cá cái không bắt mồi nên cá không lớn, cá chỉ bắt môi trở lại khi đã giải phóng hết con trong miệng. Cá đực tiếp tục sinh sản với cá cái khác. Hiện trạng nuôi cá rô phi 1.