Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông trong kỷ nguyên số đã làm thay đổi căn bản phương thức giao tiếp, truyền tải thông tin và tương tác xã hội. Tại Việt Nam, mạng xã hội phát triển với tốc độ nhanh chóng; thống kê cho thấy khoảng 86% người dùng Internet từng tiếp cận các nền tảng mạng xã hội, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng thành viên mạng xã hội hàng đầu thế giới. Trong giới trẻ, đặc biệt là sinh viên đại học, tỷ lệ sử dụng mạng xã hội đạt mức rất cao (khoảng 96,9%), với 94,7% sinh viên ghi nhận mạng xã hội mang lại kiến thức xã hội và hỗ trợ học tập.
Bên cạnh những giá trị tích cực như mở rộng kênh giao tiếp, chia sẻ học thuật, cập nhật thông tin y khoa và giải trí, việc lạm dụng mạng xã hội với thời lượng lớn và vào các thời điểm không hợp lý đã gây ra những hệ lụy tiêu cực rõ rệt. Sinh viên phải đối mặt với nguy cơ suy giảm tương tác thực tế, thay đổi lối sống, đảo lộn nhịp sinh học, giảm hiệu suất học tập cùng các vấn đề sức khỏe thể chất và tâm thần như suy giảm thị lực, đau cột sống thắt lưng, rối loạn giấc ngủ và căng thẳng tâm lý. Đối với sinh viên khối ngành Khoa học Sức khỏe – đối tượng chịu áp lực học tập lâm sàng và lý thuyết lớn – mức độ tác động của mạng xã hội càng trở nên phức tạp. Xuất phát từ thực tiễn chưa có công trình nào khảo sát toàn diện về chủ đề này tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, đề tài được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể:
- Mô tả thực trạng sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2021.
- Mô tả thực trạng ảnh hưởng của sử dụng mạng xã hội đối với hành vi và sức khỏe trong sinh viên Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2021.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu thuộc 6 chuyên ngành đào tạo (Y đa khoa, Dược học, Răng Hàm Mặt, Kỹ thuật hình ảnh y học, Kỹ thuật xét nghiệm y học, Điều dưỡng) đang theo học tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, tự nguyện đồng ý tham gia khảo sát.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Sinh viên không đồng ý tham gia hoặc sinh viên đã thôi học tại trường.
- Phạm vi không gian: Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Toàn bộ quá trình nghiên cứu thực hiện từ tháng 06/2021 đến tháng 06/2022; giai đoạn thu thập dữ liệu khảo sát trực tuyến diễn ra từ tháng 11/2021 đến hết tháng 03/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng định nghĩa pháp lý và học thuật về dịch vụ mạng xã hội trực tuyến (môi trường Internet cung cấp các tính năng blog, diễn đàn, trò chuyện trực tuyến, chia sẻ dữ liệu đa phương tiện). Cơ sở lý thuyết phân tích dựa trên khung 7 chức năng nền tảng của mạng xã hội: danh tính, giao tiếp, chia sẻ, hiển thị sự hiện diện, liên kết quan hệ, thể hiện mức độ truy cập/chất lượng thông tin và nhóm cộng đồng. Đồng thời, tác giả tổng quan các mô hình ứng dụng mạng xã hội trong đào tạo y khoa lâm sàng trên thế giới như mô hình "mEducator" (Thực hành tốt nhất), ứng dụng Facebook trong giảng dạy Dược lão khoa (Đại học Rhode Island), Twitter trong nâng cao kỹ năng ra quyết định điều dưỡng và YouTube trong phân tích bệnh án lâm sàng.
Phương pháp nghiên cứu thực hiện theo các quy chuẩn dịch tễ học và thống kê y học:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (Cross-sectional descriptive study).
- Cỡ mẫu và chọn mẫu: Tổng thể nghiên cứu gồm 1.685 sinh viên toàn trường. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phát phiếu khảo sát trực tuyến đến tất cả các lớp sinh viên thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn. Cỡ mẫu thực tế thu thập và làm sạch đạt 401 sinh viên.
- Công cụ thu thập dữ liệu: Bộ câu hỏi cấu trúc tự điền thiết kế trên nền tảng Google Forms, gồm các nhóm biến số: nhân khẩu học, thực trạng sử dụng mạng xã hội (loại nền tảng, độ tuổi bắt đầu, thâm niên tài khoản, mục đích, thời lượng, thời điểm, thói quen tương tác) và các biến số hành vi - sức khỏe (thể dục thể thao, bữa sáng, chất lượng giấc ngủ, sự tập trung, tật khúc xạ, đau cột sống thắt lưng, vấn đề tâm lý).
- Xử lý và phân tích số liệu: Dữ liệu được xử lý, làm sạch và phân tích bằng phần mềm thống kê STATA 16.0. Các kiểm định Khi bình phương ($\chi^2$) và kiểm định chính xác Fisher (Fisher's exact test) được sử dụng để kiểm định mối liên quan và sự khác biệt tỷ lệ giữa các nhóm với mức ý nghĩa thống kê $p < 0{,}05$. Sai số được hạn chế bằng việc giới hạn mỗi tài khoản thư điện tử chỉ được gửi một phản hồi duy nhất.
- Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được sự phê duyệt của Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Công tác Học sinh Sinh viên; tôn trọng quyền tự nguyện tham gia và bảo mật tuyệt đối thông tin định danh của người học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tổng quan
Chương I hệ thống hóa toàn diện các khái niệm, phân loại và 7 chức năng cơ bản của mạng xã hội trong đời sống hiện đại. Tác giả phân tích các nền tảng mạng xã hội phổ biến trên thế giới và tại Việt Nam (Facebook, YouTube, Twitter, Instagram, Zalo, TikTok), đồng thời chỉ ra xu hướng ưa chuộng mạng xã hội quốc tế của giới trẻ.
Chương này đi sâu đánh giá vai trò của mạng xã hội trong tuyển dụng (thông qua CareerBuilder.com), marketing trực tuyến, truyền thông thông tin y tế và đặc biệt là ứng dụng trong giáo dục đại học, đào tạo y khoa (mô hình mEducator, các khóa học lâm sàng qua Facebook, Twitter, YouTube). Tác giả phân tích song song hai mặt tác động:
- Mặt tích cực: Tăng cường kết nối cộng đồng, cập nhật tin tức nhanh, hỗ trợ học tập nhóm, giải trí, kinh doanh trực tuyến và bồi dưỡng tình cảm xã hội.
- Mặt tiêu cực: Giảm giao tiếp thực tế, gia tăng tâm lý tìm kiếm sự chú ý ("câu like"), giảm sút động lực sống thực tế, nguy cơ trầm cảm, triệt tiêu tư duy sáng tạo, vấn nạn bạo lực mạng ("anh hùng bàn phím"), xâm phạm quyền riêng tư và các tác hại sinh học (tiếp xúc ánh sáng xanh gây hại thị lực, ngồi sai tư thế gây tổn thương cột sống, rối loạn giấc ngủ).
Phần cuối chương tổng quan các nghiên cứu trong nước (Nguyễn Quý Thanh, Lê Trần Lan Hương, nghiên cứu tại Trường Đại học Thương mại, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng) và quốc tế (Lenhart 2010, Hargittai 2007, Clark 2009), khẳng định hành vi sử dụng mạng xã hội chịu chi phối đa yếu tố từ nhận thức cá nhân, gia đình, bạn bè đến tính hữu ích và tính dễ sử dụng của công nghệ.
Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương II trình bày chi tiết quy trình thiết kế và triển khai nghiên cứu thực địa. Tác giả xác lập tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ cho quần thể 1.685 sinh viên thuộc 6 chuyên ngành: Y Đa khoa, Dược học, Răng Hàm Mặt, Kỹ thuật Hình ảnh Y học, Kỹ thuật Xét nghiệm Y học và Điều dưỡng. Quy mô mẫu khảo sát thực tế thu được là 401 sinh viên.
Chương này chi tiết hóa bảng định nghĩa biến số, phương pháp đo lường, quy trình thiết kế phiếu khảo sát điện tử Google Forms (thu thập từ tháng 11/2021 đến tháng 03/2022), sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu, quy trình quản lý và làm sạch số liệu bằng phần mềm STATA 16.0, các phép kiểm định thống kê y sinh ($\chi^2$, Fisher's exact test), các biện pháp kiểm soát sai số và cam kết tuân thủ đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương III: Kết quả nghiên cứu
Chương III cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về đặc điểm nhân khẩu, thói quen sử dụng mạng xã hội và mối liên quan với sức khỏe, hành vi của sinh viên:
1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (n = 401):
- Ngành học: Y Đa khoa chiếm 44,39% (178 sinh viên); Dược học chiếm 21,45% (86 sinh viên); Răng Hàm Mặt chiếm 19,20% (77 sinh viên); Kỹ thuật Hình ảnh Y học chiếm 7,98% (32 sinh viên); Điều dưỡng chiếm 4,74% (19 sinh viên); Kỹ thuật Xét nghiệm Y học chiếm 2,24% (9 sinh viên).
- Giới tính: Nữ giới chiếm 68,33% (274 sinh viên); Nam giới chiếm 31,67% (127 sinh viên).
- Năm học: Sinh viên năm thứ 3 tham gia đông nhất với 49,13% (197 sinh viên); các năm còn lại gồm năm 1 (8,48%), năm 2 (10,72%), năm 4 (6,23%), năm 5 (13,47%), năm 6 (14,21%).
2. Thực trạng sử dụng mạng xã hội:
- Tỷ lệ tiếp cận: 100% sinh viên tham gia khảo sát đều sử dụng mạng xã hội.
- Nền tảng phổ biến: Facebook chiếm tỷ lệ cao nhất với 97,26% (390 sinh viên), tiếp đến là YouTube 84,54% (339 sinh viên), Instagram 78,05% (313 sinh viên), Zalo 56,34% (226 sinh viên), TikTok 42,14% (169 sinh viên).
- Độ tuổi bắt đầu: 55,86% bắt đầu dùng từ bậc THCS (11–15 tuổi); 37,91% từ bậc THPT (16–18 tuổi); 4,24% từ bậc Tiểu học (6–10 tuổi); chỉ có 2,00% bắt đầu khi lên đại học ($\ge 18$ tuổi).
- Thâm niên tài khoản: 53,37% sử dụng tài khoản trên 5 năm; 40,90% từ 2 đến dưới 5 năm; 3,99% từ 1 đến dưới 2 năm; 1,75% dưới 1 năm. Có 68,58% sinh viên từng bị khóa tài khoản; 64,34% nắm đúng quy định độ tuổi tối thiểu tạo tài khoản Facebook (13 tuổi).
- Mục đích chính: Liên lạc, trao đổi (77,80%); Giải trí (65,34%); Cập nhật tin tức ngành nghề, công việc (63,59%); Cập nhật tin đời sống (58,35%); Học kỹ năng (44,89%); Theo dõi người nổi tiếng (44,39%); Phục vụ công việc (23,94%); Bán hàng (15,46%).
- Thời lượng và thời điểm: 68,83% sinh viên sử dụng mạng xã hội $\ge 2$ giờ/ngày (trong đó 2–3 giờ chiếm 22,19%, 3–4 giờ chiếm 27,18%, trên 4 giờ chiếm 19,45%). Khung giờ truy cập nhiều nhất là 18h–22h (52,87%) và sau 22h đêm (51,62%). Nam giới dùng $\ge 2$ giờ/ngày chiếm 70,87%, nữ giới chiếm 67,88% ($p = 0{,}695$). Xét theo ngành học, tỷ lệ dùng $\ge 2$ giờ/ngày cao nhất ở Kỹ thuật Xét nghiệm (100%), Dược học (80,23%), Kỹ thuật Hình ảnh (71,88%), Răng Hàm Mặt (64,94%), Y Đa khoa (64,05%) và Điều dưỡng (57,90%).
- Thói quen tương tác: 74,56% không thường xuyên đăng bài cá nhân; 69,33% không có thói quen bình luận; 54,12% thường dùng biểu cảm tương tác; 51,37% chủ động sử dụng tính năng báo cáo nội dung sai lệch; 47,13% kết bạn và tương tác với tất cả người quen.
3. Mối liên quan giữa sử dụng mạng xã hội với hành vi và sức khỏe:
| Biến số hành vi / sức khỏe |
Yếu tố sử dụng mạng xã hội |
Nhóm nguy cơ (%) |
Nhóm so sánh (%) |
Giá trị p |
| Không tập thể dục (>2h/tuần) |
Thời lượng $\ge 2$ giờ/ngày Thời điểm truy cập sau 22h Độ tuổi bắt đầu $\le 13$ tuổi |
57,97% 56,04% 56,43% |
50,40% (nhóm < 2h) 55,16% (nhóm $\le 22$h) 54,38% (nhóm > 13 tuổi) |
$p = 0{,}005$ $p = 0{,}001$ $p = 0{,}115$ |
| Không duy trì bữa sáng |
Thời lượng $\ge 2$ giờ/ngày Thời điểm truy cập sau 22h Độ tuổi bắt đầu $\le 13$ tuổi |
60,14% 75,85% 52,70% |
48,80% (nhóm < 2h) 36,08% (nhóm $\le 22$h) 62,50% (nhóm > 13 tuổi) |
$p = 0{,}001$ $p = 0{,}005$ $p = 0{,}039$ |
| Khó đi vào giấc ngủ (>30 phút) |
Thời lượng $\ge 2$ giờ/ngày Thời điểm truy cập sau 22h Độ tuổi bắt đầu $\le 13$ tuổi |
12,68% 13,04% 21,16% |
26,40% (nhóm < 2h) 21,14% (nhóm $\le 22$h) 10,63% (nhóm > 13 tuổi) |
$p = 0{,}001$ $p = 0{,}064$ $p = 0{,}001$ |
| Dùng biện pháp hỗ trợ giấc ngủ |
Thời lượng $\ge 2$ giờ/ngày Thời điểm truy cập sau 22h Độ tuổi bắt đầu $\le 13$ tuổi |
5,80% 1,45% 4,56% |
8,00% (nhóm < 2h) 11,85% (nhóm $\le 22$h) 9,37% (nhóm > 13 tuổi) |
$p = 0{,}006$ $p = 0{,}070$ $p = 0{,}194$ |
| Mất tập trung học tập ban ngày |
Thời lượng $\ge 2$ giờ/ngày Thời điểm truy cập sau 22h Độ tuổi bắt đầu $\le 13$ tuổi |
44,93% 42,51% 46,06% |
44,00% (nhóm < 2h) 52,06% (nhóm $\le 22$h) 48,75% (nhóm > 13 tuổi) |
$p = 0{,}001$ $p = 0{,}058$ $p = 0{,}167$ |
| Mắc tật khúc xạ (thị lực) |
Thời lượng $\ge 2$ giờ/ngày Thời điểm truy cập sau 22h Độ tuổi bắt đầu $\le 13$ tuổi |
76,45% 82,12% 75,10% |
76,00% (nhóm < 2h) 70,10% (nhóm $\le 22$h) 78,12% (nhóm > 13 tuổi) |
$p = 0{,}894$ $p = 0{,}005$ $p = 0{,}385$ |
| Đau cột sống, đau lưng |
Thời lượng $\ge 2$ giờ/ngày Thời điểm truy cập sau 22h Độ tuổi bắt đầu $\le 13$ tuổi |
14,85% 15,94% 11,62% |
18,40% (nhóm < 2h) 15,98% (nhóm $\le 22$h) 22,50% (nhóm > 13 tuổi) |
$p = 0{,}009$ $p = 0{,}550$ $p = 0{,}001$ |
| Gặp vấn đề về tâm lý |
Thời lượng $\ge 2$ giờ/ngày Thời điểm truy cập sau 22h Độ tuổi bắt đầu $\le 13$ tuổi |
18,67% 14,49% 10,79% |
12,00% (nhóm < 2h) 15,46% (nhóm $\le 22$h) 21,25% (nhóm > 13 tuổi) |
$p = 0{,}012$ $p = 0{,}001$ $p = 0{,}026$ |
- Vấn đề sức khỏe chung: 76,31% sinh viên mắc tật khúc xạ; 15,96% bị đau lưng, cột sống; 14,96% gặp vấn đề tâm lý; 62,34% đi ngủ sau 23h đêm. Vấn đề giấc ngủ thường gặp nhất là thức giấc quá sớm hoặc nửa đêm (18,20%), khó thở (11,22%), cảm thấy rất lạnh (7,98%), cảm thấy rất nóng (5,98%).
Chương IV: Bàn luận
Tác giả tiến hành so sánh đối chiếu kết quả khảo sát với các y văn trong nước và quốc tế:
- Về tỷ lệ và loại hình mạng xã hội: Toàn bộ 100% sinh viên đều sử dụng mạng xã hội, khẳng định tính tất yếu của công nghệ số. Facebook giữ tỷ lệ cao nhất (97,26%), tương đồng với nghiên cứu của Lê Trần Lan Hương (2013). Tuy nhiên, vị trí thứ hai trong nghiên cứu này thuộc về YouTube (84,54%) thay vì Zingme như năm 2013. Tác giả biện luận điều này xuất phát từ đặc thù sinh viên y dược có nhu cầu cao về việc theo dõi video bài giảng lâm sàng, quy trình phẫu thuật và kỹ thuật y khoa trực quan.
- Về độ tuổi tiếp cận và an toàn mạng: Xu hướng sinh viên tiếp cận mạng xã hội sớm (trên 60% dùng từ trước 15 tuổi) phản ánh mức độ phổ cập thiết bị thông minh. Tuy nhiên, việc dùng mạng xã hội trước độ tuổi cho phép thường dẫn đến việc khai báo danh tính giả, mượn thông tin gia đình, tiềm ẩn rủi ro lộ bí mật đời tư, mất an toàn thông tin và tiếp xúc sớm với nội dung tiêu cực ảnh hưởng đến tâm lý.
- Về tác động đối với lối sống và sức khỏe: Kết quả bàn luận nhấn mạnh việc sử dụng mạng xã hội trên 2 giờ/ngày và truy cập sau 22h đêm có liên quan chặt chẽ với thói quen bỏ bữa sáng, lười vận động thể chất và gia tăng tỷ lệ mắc tật khúc xạ. Ánh sáng xanh từ màn hình điện tử và tư thế sử dụng kéo dài là các cơ chế trực tiếp làm rối loạn nhịp sinh học và tổn thương hệ cơ xương khớp ở sinh viên y khoa.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp những kết quả định lượng thực chứng cụ thể:
- Xác định 100% sinh viên Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội sử dụng mạng xã hội, với 68,83% sinh viên sử dụng từ 2 giờ mỗi ngày trở lên và 51,62% có thói quen lướt mạng sau 22h đêm.
- Chỉ ra các mối liên quan có ý nghĩa thống kê ($p < 0{,}05$) giữa thời lượng, thời điểm dùng mạng xã hội với các hành vi tiêu cực: tăng tỷ lệ không tập thể dục (57,97%), tăng tỷ lệ bỏ bữa sáng (chiếm tới 75,85% ở nhóm dùng mạng sau 22h), tăng nguy cơ mắc tật khúc xạ (82,12% ở nhóm dùng sau 22h) và các bất thường tâm lý (18,67% ở nhóm dùng $\ge 2$ giờ/ngày).
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Nhà trường và các tổ chức đoàn thể cần tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức cho sinh viên về vệ sinh giấc ngủ, cân đối thời gian học tập và sinh hoạt, hạn chế dùng thiết bị điện tử sau 22h đêm.
- Tích hợp hướng dẫn kỹ năng khai thác thông tin học thuật y khoa chính thống trên mạng xã hội, phòng ngừa thông tin sai lệch.
- Đẩy mạnh các hoạt động rèn luyện thể chất, câu lạc bộ thể thao học đường nhằm giảm thời gian tĩnh tại trên không gian mạng của sinh viên y dược.
Đóng góp học thuật:
Đây là công trình nghiên cứu tiên phong tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội khảo sát có hệ thống về thực trạng sử dụng mạng xã hội và lượng hóa cụ thể các mối liên hệ giữa thói quen sử dụng công nghệ số với hành vi sinh hoạt cùng các chỉ số sức khỏe thể chất, tâm lý của sinh viên y khoa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Quy mô mẫu nghiên cứu còn hạn chế (401 sinh viên) do bối cảnh dịch bệnh buộc phải triển khai thu thập số liệu hoàn toàn trực tuyến qua biểu mẫu Google Forms; nghiên cứu chưa thể đi sâu khai thác chi tiết bản chất nội dung mà sinh viên tiếp cận trên mạng xã hội cũng như cơ chế tác động sâu của từng luồng thông tin đối với tâm lý học đường.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng cỡ mẫu nghiên cứu trên toàn bộ sinh viên khối trường y dược, áp dụng các thiết kế nghiên cứu can thiệp hoặc theo dõi dọc, kết hợp công cụ đánh giá chuyên sâu về sức khỏe tâm thần (thang đo stress, trầm cảm) và đo lường khách quan thời lượng sử dụng màn hình thông qua ứng dụng số.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho:
- Giảng viên và sinh viên các ngành Y Đa khoa, Dược học, Y tế Công cộng, Y học Dự phòng khi nghiên cứu về hành vi sức khỏe, dịch tễ học lối sống và tâm lý học đường.
- Phòng Đào tạo, Phòng Công tác Học sinh Sinh viên và Đoàn Thanh niên các trường đại học khối ngành Sức khỏe trong việc xây dựng chính sách quản lý sinh viên, tổ chức tư vấn tâm lý học đường và phát triển các mô hình giảng dạy y khoa trực tuyến an toàn.
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương II (thiết kế biến số và bộ công cụ khảo sát dịch tễ học hành vi) và Chương III (hệ thống bảng số liệu kiểm định tương quan thống kê $\chi^2$, Fisher giữa thời lượng mạng xã hội với các bệnh lý học đường).
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN sử dụng mạng xã hội là bao nhiêu và những nền tảng nào được dùng nhiều nhất?
Toàn bộ 100% sinh viên tham gia khảo sát (401/401) đều sử dụng mạng xã hội. Các nền tảng có tỷ lệ tài khoản cao nhất gồm Facebook (97,26%), YouTube (84,54%), Instagram (78,05%), Zalo (56,34%) và TikTok (42,14%).
2. Thói quen sử dụng mạng xã hội sau 22h đêm ảnh hưởng như thế nào đến việc duy trì bữa ăn sáng của sinh viên?
Nghiên cứu chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê ($p = 0{,}005$): tỷ lệ sinh viên sử dụng mạng xã hội sau 22h đêm không duy trì bữa ăn sáng hàng ngày lên tới 75,85% (157/207 sinh viên), cao hơn rõ rệt so với mức 36,08% (70/194 sinh viên) ở nhóm sử dụng trước 22h.
3. Tỷ lệ sinh viên gặp các vấn đề sức khỏe về thị lực, cột sống và tâm lý trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Trong tổng số 401 sinh viên khảo sát, có 76,31% sinh viên mắc tật khúc xạ về mắt (306 sinh viên), 15,96% sinh viên gặp vấn đề đau lưng, đau cột sống thắt lưng (64 sinh viên) và 14,96% sinh viên ghi nhận gặp các rối loạn về tâm lý (60 sinh viên).
4. Chuyên ngành đào tạo nào có tỷ lệ sinh viên sử dụng mạng xã hội từ 2 giờ mỗi ngày trở lên cao nhất?
Sinh viên ngành Kỹ thuật Xét nghiệm Y học có tỷ lệ sử dụng mạng xã hội $\ge 2$ giờ/ngày đạt 100% (9/9 sinh viên), tiếp theo là Dược học đạt 80,23% (69/86 sinh viên), Kỹ thuật Hình ảnh Y học đạt 71,88% (23/32 sinh viên), Răng Hàm Mặt đạt 64,94% (50/77 sinh viên), Y Đa khoa đạt 64,05% (114/178 sinh viên) và thấp nhất là Điều dưỡng với 57,90% (11/19 sinh viên).
5. Nghiên cứu sử dụng phần mềm và các phép kiểm định thống kê nào để phân tích dữ liệu?
Tác giả sử dụng phần mềm thống kê STATA 16.0 để quản lý, làm sạch và xử lý dữ liệu. Để kiểm định sự khác biệt về tỷ lệ và mối liên quan giữa các biến số, nghiên cứu áp dụng kiểm định Khi bình phương ($\chi^2$) và kiểm định chính xác Fisher (Fisher's exact test) với ngưỡng ý nghĩa thống kê $p < 0{,}05$.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Anh Huy đã phản ánh toàn diện thực trạng phổ biến của mạng xã hội trong sinh viên Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội với 100% đối tượng sử dụng và đa số dành trên 2 giờ mỗi ngày cho không gian ảo. Nghiên cứu đã chứng minh bằng số liệu định lượng rằng việc sử dụng mạng xã hội cường độ cao và vào ban đêm có liên quan chặt chẽ tới lối sống thụ động, thói quen bỏ bữa sáng, suy giảm thị lực và các áp lực tâm lý học đường. Đây là cơ sở khoa học thực chứng quan trọng giúp các cơ sở đào tạo y dược hoạch định giải pháp nâng cao sức khỏe thể chất, tâm thần và định hướng khai thác hiệu quả công nghệ số trong học tập cho sinh viên.