chương 1 đã khẳng định đóng góp về lý thuyết, thực tiễn và đóng góp mới của đề tài. Cuối cùng, chương này đã cung cấp thông tin khái quát nội dung chính 5 chương của đề tài. 10 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH THUẾ VÀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP 2.
Kế hoạch thuế 2. Khái niệm kế hoạch thuế Hoffman (1961) định nghĩa KHT 2 là khả năng thu xếp các hoạt động tài chính theo hướng tối thiểu hóa chi phí thuế, tức là vận dụng hợp pháp các quy định của pháp luật để đạt được mục tiêu cuối cùng của một KHT hiệu quả là tránh thuế (tax avoidance). Rego (2003) làm rõ KHT đem lại lợi cho nhà đầu tư vì giảm chi phí thuế làm tăng thu nhập sau thuế, còn Singhania & Singhania (2019) khẳng định các hoạt động KHT làm giảm chi phí thuế trong khuôn khổ pháp luật, còn gọi là tránh thuế. Scholes & Wofson (1992) cho rằng KHT là các hoạt động thực hiện các kỹ năng và kiến thức để giảm gánh nặng thuế trong khi vẫn đảm bảo tăng thu nhập sau thuế, còn gọi là tối ưu hóa thuế.
Các định nghĩa trên đây về KHT có thể đồng nhất giữa KHT và tránh thuế (Hoffman, 1961; Rego, 2003; Singhania & Singhania, 2019) hoặc nhấn mạnh mục tiêu cuối cùng của KHT là tối ưu hóa thuế (Scholes & Wolfson, 1992), hoặc tính chiến lược, khả năng dự báo cũng như làm gia tăng giá trị của KHT (Krayan, 2007). Trong đề tài này nhóm nghiên cứu xác định tiếp cận khái niệm về KHT là 2 Tax planning: Lập kế hoạch thuế/ kế hoạch thuế 11 tập hợp các hoạt động được hoạch định theo hướng khai thác hợp pháp các chính sách, cơ chế nhằm tạo ra các lợi ích về thuế, và từ đó kỳ vọng tạo ra giá trị tăng thêm cho công ty. Như vậy, KHT không theo nghĩa đơn thuần của 1 bản kế hoạch (A plan). KHT có một ý nghĩa bao quát hơn, mang tầm chiến lược, có mục tiêu cuối cùng là tối ưu hoá số thuế phải nộp trong khuôn khổ của pháp luật.
Tối ưu hóa không phải giảm chi phí thuế đơn thuần. Công ty theo đuổi mục tiêu giảm thiểu thuế phải nộp nhưng hệ lụy của nó có thể làm tăng một số chi phí khác hoặc giảm thu nhập. Vì vậy, khi xác định KHT là một phần chiến lược chung của công ty, KHT phải tuân thủ chính sách thuế và luật pháp nói chung, tránh tổn thất cho công ty để duy trì sự phát triển bền vững. Ngoài ra, KHT khác với tránh thuế (tax avoidance) hoặc trốn thuế (tax evasion).
Trong đó, tránh thuế phản ánh kết quả của các hoạt động thuế hợp pháp nhằm giảm số thuế phải nộp, còn trốn thuế là hoạt động không hợp pháp (Rego, 2003; Singhania & Singhania, 2019). Thuật ngữ “KHT” phù hợp hơn cho rất nhiều các nghiên cứu vì phản ánh được khái niệm về các cố gắng chủ định để tạo ra lợi ích thuế hoặc đầu tư vào các hoạt động thuế một cách thận trọng, trong khi khái niệm tránh thuế chỉ là một phần hay kết quả của KHT. Do đó việc sử dụng khái niệm “KHT” có thể tạo ra nhiều hướng nghiên cứu, trong khi thuật ngữ “Tránh thuế” chỉ có thể phản ảnh kết quả của KHT. Đo lường kế hoạch thuế Bảng 2.1 thống kê các chỉ tiêu đo lường KHT theo hai hướng: (1) Đánh giá tổng hợp KHT.
(2) Đánh giá chi tiết theo từng thành phần KHT. Các thước đo được sử dụng linh hoạt trong mỗi nghiên cứu, trong đó chỉ tiêu Thuế suất hiệu dụng kế toán (GAAP ETR) thường được sử dụng rộng rãi để đánh giá khái quát về KHT. Ngoài ra, dữ liệu để tính toán chỉ tiêu này cũng dễ thu thập từ các báo cáo tài chính công khai của các doanh nghiệp.1: Các chỉ tiêu đo lường KHT Ký hiệu Đo lường Ý nghĩa Nghiên cứu thực nghiệm Tổng thể KHT Thuế suất hiệu dụng kế toán = Phản ánh kết quả chung của Tang (2017), Badertscher & cộng sự GAAP ETR Tổng chi phí thuế/Lợi nhuận kế KHT: Tỷ lệ thuế phải nộp theo (2019), Chen & cộng sự (2019), Kubick toán trước thuế ghi nhận kế toán & cộng sự (2020) Thuế suất hiệu dụng hiện hành = Phản ánh phần thuế thực hiện Graham & cộng sự (2012), Rego (2003), Current ETR Chi phí thuế hiện hành/Lợi trong năm so với lợi nhuận Mills (1998) nhuận kế toán trước thuế trước thuế Thuế suất hiệu dụng bằng tiền = Phản ánh số thuế ước tính phải Dyreng & cộng sự (2008), Hanlon & Cash ETR Số thuế bằng tiền/Thu nhập tính nộp bằng tiền so với lợi nhuận Shevlin (2009), Kubick & cộng sự thuế tính thuế (2020) Wahab & cộng sự (2010, 2012), Ling & Chênh lệch thu nhập kế toán và Sự khác biệt giữa thu nhập ghi cộng sự (2018), Plesko (2003), Manzon BTD thu nhập tính thuế = Lợi nhuận nhận theo kế toán và thu nhập & Plesko (2001-2002), Desai & trước thuế - Thu nhập tính thuế theo thuế Dharmapala (2009) 13 Bảng 2.1: Các chỉ tiêu đo lường KHT (tiếp theo) Từng thành phần KHT Phần chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán & thu nhập chịu thuế do sự khác biệt về ghi nhận một số Chênh lệch vĩnh viễn/Giá trị KHTD/BVE khoản doanh thu và chi phí giữa vốn cổ phần quy định của thuế & quy định của kế toán so với giá trị vốn cổ phần Wahab & cộng sự (2010, 2012), Phần chênh lệch giữa lợi nhuận Mgammal (2019) kế toán & thu nhập chịu thuế do sự khác biệt về thời điểm ghi Chênh lệch tạm thời/Giá trị vốn TTD/BVE nhận một số khoản doanh thu và cổ phần chi phí giữa quy định của thuế & quy định của kế toán so với giá trị vốn cổ phần 14 Bảng 2.1: Các chỉ tiêu đo lường KHT (tiếp theo) Lỗ được trừ thuế/Giá trị vốn cổ Lỗ được trừ khỏi thu nhập chịu TLOSS/BVE phần thuế so với giá trị vốn cổ phần Thu nhập do chênh lệch thuế Thu nhập do chênh lệch thuế Wahab & cộng sự (2010, 2012), TFTR/BVE suất nước ngoài/Giá trị vốn cổ suất nước ngoài so với giá trị Mgammal (2019) phần vốnc cổ phần Các khoản khác/Giá trị vốn cổ Các khoản chênh lệch khác so TUNC/BVE phần với giá trị vốn cổ phần Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp từ các nghiên cứu trước 15 2. Khung lý thuyết trong lập kế hoạch thuế Khung lý thuyết trong lập KHT thường được đề cập trong các nghiên cứu trước gồm có khung lý thuyết theo quan điểm của Scholes & Wofson (1992) và Karayan & Swenson (2007).
Quan điểm của Scholes và Wolfson (1992) KHT cần tuân thủ 3 nguyên tắc là: (1) Đề cập đến tất cả các biên liên quan (cả khách hàng, người lao động, nhà cung cấp và đối thủ cạnh tranh). Scholes & Wolfson (1992) tập trung vào chiến lược thuế đối với lương thưởng, kế hoạch hưu trí của người lao động, KHT đa quốc gia, KHT khi thành lập, hoạt động, lựa chọn cấu trúc vốn và thanh lý doanh nghiệp, mua bán sáp nhập, bất động sản và quà tặng, cụ thể: (1) Chuyển từ loại thu nhập này sang loại thu nhập khác. (2) Chuyển thu nhập từ chủ thể này sang chủ thể khác. (3) chuyển thu nhập từ thời điểm này sang thời điểm khác.
Shackelford & Shevlin (2001) đã thừa nhận cách tiếp cận tích cực của khung xây dựng kế hoạch thuế của Scholes & Wolfson (1992) trong đánh giá vai trò của các loại thuế đối với các tổ chức. Ngoài ra, Ling & cộng sự (2018), Wahab & Holland (2012) cũng dựa vào khung xây dựng kế hoạch thuế của Scholes &Wolfson (1992) để phát triển các nghiên cứu về KHT. Quan điểm của Karayan & Swenson (2007) Karayan & Swenson (2007) cho rằng giảm nghĩa vụ thuế phải nộp của doanh nghiệp có thể đạt được thông qua một trong bốn phương thức: tạo mới (creation), chuyển đổi (conversion), thời điểm (timing) và chia tách (splitting). Trong đó: 3 Thuế hiện (explicit taxes) là khoản thuế người chịu thuế phải nộp cho ngân sách Nhà nước.
4 Thuế ẩn (implicit tax) là khoản thuế không phải nộp do lựa chọn hình thức đầu tư thay thế có ưu đãi thuế. 16 - Tạo mới: lập thêm chi nhánh hoặc công ty mới tại nơi có thuế suất thấp. - Chuyển đổi: việc thay đổi cơ chế hoạt động, thay đổi bản chất giao dịch để tài sản và thu nhập được tạo ra chịu mức thuế suất thấp hơn. - Thời gian: việc dịch chuyển giá trị chịu thuế sang kỳ tính thuế có lợi hơn.
- Chia tách là việc chia giá trị chịu thuế cho hai hay nhiều đối tượng chịu thuế để làm giảm tổng thuế phải nộp của tất cả đối tượng chịu thuế. Ngoài ra, Karayan & Swenson (2007) nhấn mạnh mục tiêu cuối cùng của KHT là giảm thuế nhưng không làm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy, Karayan & Swenson (2007) đã đề xuất mô hình SAVANT để giúp các nhà quản trị đạt mục tiêu thuế, thống nhất với các mục tiêu khác trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. “SAVANT” được viết tắt bởi các thuật ngữ tiếng Anh như “Strategy” - Chiến lược, “Anticipation” - Dự báo, “Value-Adding” - Tạo giá trị tăng thêm, “Negotiating” - Thương lượng, và “Transforming” - Chuyển đổi.1 khái quát các chiến thuật như sau: Hình 2.1 Khung SAVANT trong lập KHT của Karayan & Swenson (2007) Chiến lược Dự báo Tạo giá trị Thương lượng Chuyển đổi Nguồn: Karayan & Swenson (2007) Chiến lược: Chiến lược trong lập KHT được hiểu là việc cân nhắc lợi ích thuế phù hợp với chiến lược chung của công ty nhằm phát huy thế mạnh của công ty cả cấp độ hoạt động kinh doanh, công ty và quốc tế.
Một KHT hiệu quả phải hợp khớp với chiến lược công ty. Do vậy, trường hợp công ty muốn phát triển một loại hình kinh doanh mới có lợi về thuế (lỗ được trừ) nhưng không phù hợp với năng lực kinh doanh của công ty thì công ty không nên lựa chọn phương án kinh doanh chỉ vì mục tiêu thuế. Ngoài ra, chiến lược chung của công ty thể hiện được 17 lợi thế hơn đối thủ cạnh tranh cả về lợi ích thuế, chẳng hạn như công ty triển khai hoạt động kinh doanh tại địa bàn được ưu đãi thuế, vận dụng khoản nợ thuế hoặc thực hiện khấu hao nhanh đối với tài sản cố định. Do vậy, các khoản tiết kiệm từ ưu đãi thuế giúp công ty có thêm vốn mua thiết bị hoặc đầu tư dự án mới.