Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng của Influencers trên nền tảng Tiktok tới hành vi mua sắm online của giới trẻ Việt Nam. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Hạn chế và hướng nghiên cứu tương lai. CHƯƠNG 2:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA INFLUENCERS TRÊN NỀN TẢNG TIK TOK ĐẾN HÀNH VI MUA SẮM ONLINE CỦA GIỚI TRẺ VIỆT NAM. Các khái niệm cơ bản 2. Mạng xã hội Tiktok Tik Tok là một nền tảng âm nhạc và mạng xã hội cho phép người dùng tạo ra các đoạn video ngắn với hiệu ứng âm thanh, hình ảnh độc đáo.
Cách thức hoạt động của ứng dụng Tik Tok cũng khá đơn giản, hầu hết các video đều có thời lượng từ vài giây đến 15 giây hoặc dài hơn (chỉ áp dụng ở một số tài khoản nhất định). Người sử dụng có thể tạo trực tiếp video/clip trên app Tik Tok hoặc tạo trên điện thoại rồi đăng tải lên Tik Tok. Tik Tok cung cấp cho người dùng một kho tàng âm nhạc và hiệu ứng độc đáo, sáng tạo và ấn tượng. Tất cả những gì bạn phải làm là chèn nhạc, chỉnh sửa hiệu ứng sao cho phù hợp và đẹp mắt nhất là được.
Influencers (người đại diện, giới thiệu sản phẩm) Influencer được dịch sang tiếng Việt là “người ảnh hưởng”. Họ là những người có sức ảnh hưởng và tác động đến suy nghĩ, hành vi cũng như quyết định mua hàng của một nhóm đối tượng nhất định hoặc một cộng đồng lớn. Mức độ ảnh hưởng của Influencer tùy thuộc vào độ nổi tiếng, sự ủng hộ và yêu mến của mọi người. Các lý thuyết được sử dụng khi nghiên cứu về các ảnh hưởng của Influencers trên nền tảng Tiktok tới hành vi mua sắm của giới trẻ Việt Nam.
Thuyết hành vi người tiêu dùng của Kotler và Keller (2012) Theo Philip Kotler định nghĩa: “Hành vi tiêu dùng là hành động của một người tiến hành mua và sử dụng sản phẩm cũng như dịch vụ, bao gồm cả quá trình tâm lý và xã hội xảy ra trước và sau khi hành động” (Philip Kotler, 2007). Philip Kotler đã hệ thống các yếu tố dẫn tới quyết định mua của người tiêu dùng qua mô hình như sau: HỘP ĐEN CỦA NGƯỜI MUA Các tác nhân => Đặc điểm Tiến trình => Các đáp ứng Marketing Các tác của người quyết định của của người nhân khác mua người mua mua - Sản phẩm - Kinh tế - Văn hóa - Nhận thức - Chọn sản - Giá cả - Chính - Xã hội vấn đề phẩm - Phân phối trị - Cá tính - Tìm kiếm - Chọn nhãn - Cổ động - Công - Tâm lý thông tin hiệu nghệ - Đánh giá - Chọn đại - Văn hóa - Quyết định lý - Hành vi mua - Định thời gian - Định số lượng Hình 1. Mô hình hành vi của người tiêu dùng Nguồn: Philip Kotler và Kevin Keller (2013) Từ mô hình cho thấy rằng, các yếu tố marketing bao gồm: giá cả, sản phẩm, cổ động, phân phối và các tác nhân khác: chính trị, kinh tế, văn hóa, công nghệ tác động vào “hộp đen của người mua”. Mỗi một cá nhân có “hộp đen” khác nhau và được xác định bởi những đặc điểm cá tính, tâm lý, văn hóa và xã hội cũng như tiến trình quyết định của người mua bao gồm: vấn đề được nhận thức, tìm kiếm thông tin, đánh giá sản phẩm/dịch vụ, quyết định mua, hành vi mua.
Và kết quả là đưa ra quyết định mua sắm 10 nhất định gồm: loại mặt hàng sản phẩm, nhãn hiệu, địa điểm mua, thời điểm mua và số lượng mua. Công việc chủ yếu của người làm marketing là tìm hiểu các tác nhân được chuyển thành những đáp ứng ra sao ở bên trong “hộp đen” của người mua. Một lý thuyết ban đầu về việc đưa ra quyết định của người tiêu dùng dựa trên các nguyên tắc kinh tế học được gọi là “con người kinh tế”. Theo mô hình “con người kinh tế”, người tiêu dùng có lý trí và tư lợi hẹp.
Lý thuyết này cho rằng mọi người hành động ích kỷ với tư cách là người tiêu dùng, luôn cố gắng tối đa hóa lợi ích mà họ thu được từ quá trình trao đổi. (Lý thuyết này khẳng định rằng người bán/người sản xuất cũng là một nhà kinh tế, người luôn cố gắng tối đa hóa lợi nhuận của mình từ việc trao đổi.) Mô hình người đàn ông kinh tế gợi ý người tiêu dùng tích cực dùng thông tin về tất cả các lựa chọn có sẵn trước khi đưa ra quyết định mua hàng. Mặc dù mô hình này có thể giúp giải thích một số quyết định được đưa ra của người tiêu dùng, nhưng hầu hết đều đồng ý rằng quá đơn giản để giải thích mọi lựa chọn của người tiêu dùng. Trên thực tế, mọi người cũng thường đưa ra quyết định dựa trên những yếu tố phi lý trí.
Ví dụ, với tiêu dùng sản phẩm xanh, một số người tiêu dùng có thể bị tác động nặng nề bởi thông tin truyền miệng từ đồng nghiệp hoặc bạn bè. Họ có khả năng chọn thứ gì đó vì tâm lý số đông hơn là vì nó mang lại giá trị khách quan lớn nhất. Tương tự, nhiều người không thích thay đổi, vì vậy họ đưa ra những lựa chọn tiêu dùng không tối ưu vì một lựa chọn quen thuộc có vẻ dễ dàng hơn hoặc an toàn hơn. Như minh họa trong hình trên, các kích thích bên ngoài mà người tiêu dùng phản ứng bao gồm hỗn hợp tiếp thị và các yếu tố môi trường khác trên thị trường.
Hỗn hợp tiếp thị (bốn chữ P) đại diện cho một tập hợp các yếu tố kích thích được công ty lên kế hoạch và tạo ra. Các yếu tố kích thích môi trường cũng được cung cấp bởi các hoàn cảnh chính trị, kinh tế và văn hóa của một xã hội. Cùng với nhau, những yếu tố này đại diện cho hoàn cảnh bên ngoài giúp hình thành lựa chọn của người tiêu dùng. Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến quyết định của người tiêu dùng được mô tả là “hộp đen”.
“Chiếc hộp” này chứa nhiều yếu tố khác nhau tồn tại bên trong tâm trí người đó. Chúng bao gồm các đặc điểm của người tiêu dùng, ví dụ như niềm tin, giá trị, động lực, lối sống của họ, v. Quá trình ra quyết định cũng là một phần của hộp đen, khi người tiêu dùng nhận ra rằng họ có vấn đề cần được giải quyết và cân nhắc cách quyết định mua hàng, có thể vấn đề sẽ được giải quyết. Khi người tiêu dùng phản ứng với các kích thích bên ngoài, “hộp đen” của họ sẽ xử lý các lựa chọn dựa trên các yếu tố bên trong và xác định phản ứng của người tiêu dùng - mua hay không mua.
Hộp đen được ông chia thành 3 phần: tâm lý người tiêu dùng, đặc điểm và lộ trình mua hàng. 11 Đặc điểm của người tiêu dùng là một nhóm các yếu tố tác động lên hành vi mua hàng có quan tâm của người tiêu dùng. Chúng thay đổi theo thời gian. Nhóm này bao gồm: - Yếu tố cá nhân: tuổi, giai đoạn của chu kỳ sống gia đình, nghề nghiệp, thu nhập mỗi gia đình, lối sống, v.
- Các yếu tố xã hội: nhóm thành viên, nhóm tham khảo, gia đình, vai trò xã hội và địa vị. - Các yếu tố văn hóa: văn hóa, tiểu văn hóa và tầng lớp xã hội. Yếu tố tâm lý thường khó mà thể hiện ra rõ rệt. Đôi khi ngay cả chính khách hàng cũng không thể phân tích chúng.
Chúng bao gồm: - Động lực thúc đẩy. Có 3 nhóm động cơ: lý trí, tình cảm và phi lý trí. Đây là cách chúng ta giải thích thông tin và phân tích nó. Đây là kinh nghiệm và kiến thức trước đây ảnh hưởng đến hành vi của khách hàng.
Nếu khách hàng đã nhớ đến thương hiệu của bạn thông qua quảng cáo và họ đã có trải nghiệm tuyệt vời, nhiều khả năng họ sẽ mua hàng lần nữa. Thuyết hành động hợp lý (TRA) Ajzen và Fishbein cùng hợp tác nghiên cứu Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) vào cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 và được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70. TRA được coi là học thuyết quan trọng tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội. Nó tập trung vào việc xây dựng một hệ thống quan sát hai nhóm biến: Thái độ (Attitudes) là cách nhìn nhận và bày tỏ cảm xúc đối với một hành động hoặc một hành vi (Attitude toward behavior), thể hiện những nhận thức tích cực hay tiêu cực của cá nhân về việc thực hiện hành vi đó (Hale, 2003).
Nếu kết quả mang lại lợi ích cho cá nhân, họ có thể có ý định tham gia vào hành vi (Fishbein & Ajzen, 1975, tr.13) Chuẩn chủ quan (Subjective norms) là niềm tin rằng một cá nhân hay một nhóm người quan trọng sẽ chấp thuận và hỗ trợ một hành vi đặc biệt (Fishbein & Ajzen, 1975). Mô hình TRA nói rằng, khi một cá nhân thực hiện một hành động, họ được hưởng lợi từ hành vi đó và nhận được sự chấp thuận và ủng hộ của những người khác. Giả thuyết mà mô hình này đưa ra đó là ý định thực hiện hành vi có trước việc thực hiện hành vi của một cá nhân, trong khi thực tế lại cho thấy một cá nhân có thể thực hiện hành vi mà không cần có ý định từ trước. Người tiêu dùng chậm thay đổi thái độ của họ vì nó được hình thành trong một thời gian qua trải nghiệm (Boone & Kurtz, 2002).
Rất ít nhà nghiên cứu đã nghiên cứu tác 12 động của tiếp thị người ảnh hưởng đến thái độ đối với thương hiệu (AB) và ý định mua hàng (PI). Những người nổi tiếng có độ hấp dẫn hoặc chuyên gia trong một lĩnh vực là những người có ảnh hưởng chính được các nhà tiếp thị tuyển dụng để xây dựng mối quan hệ thương hiệu - người tiêu dùng (Lim và cộng sự, 2017) (Trivedi, 2018). Vì khi tiếp thị bằng quảng cáo thì khá nhàm chán, nên các doanh nghiệp thường sẽ tuyển dụng những người có ảnh hưởng trên nền tảng mạng xã hội Tiktok để tiếp thị cho sản phẩm của họ, để người tiêu dùng sẽ chú ý nhiều hơn đến sản phẩm, làm tăng khả năng mua hàng của người tiêu dùng. Niềm tin đối với những ảnh hưởng sẽ nghĩ ràng tôi nên mua hay không nên mua Thái độ hướng sản phẩm; sự thúc đẩy làm đến hành vì theo ý muốn của những người ảnh hưởng.
Xu hướng mua Hành vi mua Niền tin đối với những thuộc tính sản phẩm; đo Chuẩn chủ quan lường niềm tin đối với những thuộc tính sản phẩm.