ĐẶT VẤN ĐỀ Dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) có xu hướng liên kết với nhau giữa các chuyên ngành nên việc hợp tác giữa nhân viên y tế (NVYT) là rất quan trọng. Tuy nhiên, rào cản trong thực hành hợp tác liên ngành (HTLN) là tồn tại nhận thức sai về vai trò, trách nhiệm giữa các ngành, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến công tác điều trị và chăm sóc cho người bệnh (NB) [12], [33], [103], [111]. Nhận thức là quá trình hoặc kết quả của sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng [19]. Tại Việt Nam, nhận thức về vai trò Điều dưỡng (ĐD) của một bộ phận NVYT và người dân chưa đúng, cho rằng “Nghề điều dưỡng là nghề phục vụ, điều dưỡng chỉ là người làm theo y lệnh, bác sỹ bảo gì làm nấy” [33].
Nhận thức sai tồn tại trong ngành CSSK do NVYT hiểu không đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của từng chuyên ngành và dẫn đến hợp tác chưa tốt [65]. Làm việc nhóm không hiệu quả giữa NVYT là một trong những yếu tố chính gây bất lợi cho NB [16], [63], [95]. Bằng cách thực hành HTLN, làm việc cùng nhau và tôn trọng các quan điểm về CSSK, một nhóm liên ngành có thể cải thiện kết quả điều trị, chăm sóc cho NB [66]. Dạy sinh viên (SV) ngành sức khỏe cách thực hành như một thành viên trong nhóm CSSK liên ngành đã trở thành vấn đề ưu tiên của nhiều tổ chức giáo dục [112].
Sau hơn 50 năm tìm hiểu, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và các nhà nghiên cứu về giáo dục liên ngành (GDLN) thừa nhận có đầy đủ bằng chứng để chứng minh GDLN mang lại hiệu quả trong thực hành hợp tác CSSK cho NB [64], [66], [67]. Đồng thời, SV ngành sức khỏe được học GDLN sẽ có xu hướng tiếp tục làm việc liên ngành sau khi tốt nghiệp [57], [110]. Để thúc đẩy hợp tác trong đội ngũ CSSK tương lai, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHYD TP.HCM) đi đầu trong việc thực hiện chương trình GDLN ở Khoa Điều dưỡng – Kỹ thuật Y học, Khoa Y và Khoa Dược vì mục tiêu chăm sóc lấy NB làm trung tâm, vì sự an toàn của NB. Bốn năng lực cốt lõi của sự hợp tác được giảng dạy trong GDLN: (1) Tôn trọng giá trị và chuẩn mực đạo đức trong chăm sóc liên ngành, (2) Thực thi nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp trong chăm sóc liên ngành, (3) Giao tiếp liên ngành, (4) Thành lập và làm việc nhóm.
Để thực hiện được bốn năng lực cốt lõi cũng như ứng dụng những kiến thức, kỹ năng từ GDLN vào thực tế nghề nghiệp trong tương lai thì bản thân SV phải tự tin vào nghề nghiệp của mình, phải tôn trọng chuyên môn của nhóm liên ngành và tất cả vì lợi ích của NB. Trong đó, thay đổi nhận thức giữa các ngành ngay từ môi trường giáo dục sẽ là tiền đề để những NVYT tương lai hiểu được vai trò của nhau, tôn trọng và hợp tác cùng nhau [57], [110]. Người ĐD hay Dược sĩ (DS), nhân viên Phục hồi chức năng (PHCN) mạnh dạn nói lên nhận định, ý kiến của mình trước những quyết định của BS để bảo vệ NB, giúp cho BS và NB có cái nhìn khác hơn, cầu thị và hợp tác tốt hơn khi thực hành HTLN. Thay đổi nhận thức về ngành nghề không phải là mục tiêu quan trọng nhất của GDLN nhưng thay đổi nhận thức sẽ là nền tảng để GDLN và xa hơn là phát triển thực hành HTLN vì lợi ích của NB.
Từ khi triển khai đến nay vẫn chưa có nghiên cứu tìm hiểu về sự thay đổi nhận thức của SV ngành sức khỏe đối với ngành ĐD, PHCN, YK, DH sau khi tham gia GDLN và có những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự thay đổi này. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của chương trình giáo dục liên ngành trên nhận thức của sinh viên ngành sức khỏe về vai trò của nhân viên y tế” với các mục tiêu: 1. Mô tả nhận thức và nhận xét của SV ngành sức khoẻ (ĐD, PHCN, Y khoa (YK), Dược học (DH)) về ngành ĐD, PHCN, YK và DH qua thang đo Student Stereotypes Rating Questionnaire (SSRQ) trước và sau khi học GDLN. So sánh nhận thức ở SV ngành sức khoẻ về ngành ĐD, PHCN, YK và DH qua thang đo SSRQ trước và sau khi học GDLN.
Xác định các yếu tố liên quan (tuổi, dân tộc, ngành học, hình thức học GDLN, sự sẵn sàng học tập liên ngành) với nhận thức, sự thay đổi nhận thức ở SV ngành sức khỏe trước và sau khi SV học GDLN. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về hoạt động điều trị, chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm Mỗi NB được tạo điều kiện để họ lựa chọn phương thức điều trị, chăm sóc phù hợp cho mình. Thông tư 07/2011/TT-BYT hướng dẫn công tác ĐD về chăm sóc NB trong bệnh viện nêu rõ NB là trung tâm của công tác chăm sóc.
Vì vậy, NVYT cần thực hiện chăm sóc NB toàn diện, liên tục, chất lượng, bảo đảm sự hài lòng và vì sự an toàn của NB [12], [32], [52]. Theo nguyên tắc hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thì NVYT cần đối xử bình đẳng, công bằng, không kỳ thị và không phân biệt đối với NB. Tôn trọng quyền của NB, giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư của NB được ghi trong hồ sơ bệnh án (trừ trường hợp được quy định cụ thể của Luật khám bệnh, chữa bệnh). Ngoài ra, NB còn được tư vấn, giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với bệnh, được điều trị bằng phương pháp an toàn, hợp lý và có hiệu quả theo các quy định chuyên môn kỹ thuật [10].
Lấy NB làm trung tâm để đổi mới công tác quản lý bệnh viện là mục tiêu quan trọng của ngành y tế. Năm 2018, Trung tâm Phát triển năng lực quản lý Khám, chữa bệnh - Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) đã tổ chức khóa đào tạo quản lý bệnh viện nhằm tiếp tục thực hiện những đổi mới của ngành y tế trong công tác quản lý bệnh viện, nâng cao hơn nữa chất lượng khám, chữa bệnh và đáp ứng sự hài lòng của NB. Theo Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh Lương Ngọc Khuê cho biết ngành y tế cần phải đổi mới chất lượng, đòi hỏi bệnh viện cần nỗ lực cải tiến chất lượng, ngành y tế cần tập trung đổi mới về quản lý thông qua việc thiết lập hệ thống quản lý chất lượng tại bệnh viện, cải cách quy trình, giảm thủ tục hành chính, trau dồi kiến thức mới cho NVYT và chú trọng quan điểm lấy NB làm trung tâm của chăm sóc và điều trị [21]. Một trong các mô hình chăm sóc lấy NB làm trung tâm nhằm hướng đến sự hài lòng của NB là mô hình chăm sóc NB theo nhóm liên ngành.
Điều 18 của Thông tư 07/2011/TT-BYT có hướng dẫn: Tùy vào đặc điểm chuyên môn của từng khoa mà. 4 áp dụng mô hình phân công chăm sóc phù hợp. Trong đó, mô hình chăm sóc theo nhóm liên ngành (đội) gồm BS, ĐD viên hoặc hộ sinh viên và người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh khác chịu trách nhiệm điều trị, chăm sóc cho một số NB ở một đơn nguyên hay một số buồng bệnh [11]. Tại bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí, mô hình chăm sóc này được bệnh viện áp dụng từ năm 1998 dưới sự giúp đỡ của chuyên gia đến từ Thụy Điển, bệnh viện đã áp dụng và phát triển mô hình này với mục tiêu “Lấy người bệnh làm trung tâm là kim chỉ nam để tất cả mọi thành viên trong đội phải hướng tới”.
Nhóm chăm sóc bao gồm có ĐD, BS, kỹ thuật viên PHCN, hộ lý, học sinh SV, NB và người nhà NB. Từ thực tế đó, NB hài lòng khi đến bệnh viện khám, chữa bệnh vì họ được tham gia vào quá trình điều trị và có đội ngũ NVYT đến tận giường bệnh thăm hỏi, thảo luận, khi NB có băn khoăn, lo lắng thì được động viên, giải đáp kịp thời [41]. Để mô hình chăm sóc theo nhóm liên ngành phát huy được vai trò và nhiệm vụ trong công tác chăm sóc lấy NB làm trung tâm thì cần phải có sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm. Trách nhiệm của BS điều trị là phối hợp chặt chẽ với ĐD và NVYT khác của khoa trong việc đánh giá, phân cấp chăm sóc NB và phối hợp trong việc thực hiện kế hoạch chăm sóc cho từng NB.
Phối hợp với ĐD viên, kỹ thuật viên, hộ sinh viên trong thực hiện các phẫu thuật, thủ thuật, hướng dẫn, giáo dục sức khỏe cho NB. Đồng thời kiểm tra việc thực hiện các chỉ định điều trị, theo dõi, chăm sóc NB của ĐD viên, kỹ thuật viên và hộ sinh viên. Trách nhiệm của ĐD viên, hộ sinh viên là cần phối hợp chặt chẽ với NVYT khác trong công tác chăm sóc NB. Tuân thủ các quy trình kỹ thuật ĐD, các quy định của Bộ Y tế và của bệnh viện đang công tác.
Thực hiện quy tắc ứng xử và thực hành giao tiếp với đồng nghiệp, NB và người nhà NB [12]. Ngày nay, đứng trước tình hình gia tăng dân số (thống kê ngày 02/7/2021 theo số liệu từ Liên Hợp Quốc thì dân số Việt Nam là 98.107 người [27]) cũng như dự báo về già hóa dân số, dịch bệnh diễn biến phức tạp thì ngoài sự hợp tác của BS, ĐD, hộ sinh, nhân viên công tác xã hội, chuyên gia tâm lý … trong việc điều trị, chăm sóc, hỗ trợ các bệnh lý nói chung thì vai trò của DS (đặc biệt là DS lâm sàng) và. 5 PHCN cũng rất quan trọng đối với các bệnh lý mạn tính. Thực hành dược lâm sàng là một cấu phần của nhóm thực hành CSSK với mục tiêu tối ưu hóa kết quả điều trị, chăm sóc cho NB bằng các can thiệp dược nhằm đảm bảo dùng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả.
Thực hành dược lâm sàng hướng đến quan điểm lấy NB làm trung tâm, hoạt động của DS lâm sàng gắn liền với quá trình sử dụng thuốc, không đơn thuần là xem xét đơn thuốc mà phải chú trọng hơn đến việc cho NB dùng thuốc thích hợp. Thực hành dược lâm sàng tham gia cùng đội CSSK (BS, ĐD, kỹ thuật viên PHCN, .) chăm sóc và điều trị từng NB, nhận trách nhiệm đáp ứng các nhu cầu liên quan đến thuốc của NB và luôn luôn phải đảm bảo hoàn thành trách nhiệm đó. Đóng góp kiến thức và kỹ năng lâm sàng cho đội ngũ CSSK. Kiểm soát và giảm thiểu rủi ro liên quan đến sử dụng thuốc cho NB.