CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoạt động dạy học môn Giáo dục Quốc phòng và An ninh theo tiếp cận năng lực cho học sinh trung học phổ thông 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Hoạt động dạy học luôn là vấn đề rất được các quốc gia trên thế giới quan tâm đặc biệt, là một trong những nội dung được ưu tiên hàng đầu trong các chính sách của quốc gia nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục tiến tới phát triển đất nước bằng nguồn nhân lực chất lượng cao. Nghiên cứu của Dewey (2008) cho rằng giáo dục không chỉ để chuẩn bị cho cuộc sống, mà giáo dục chính là cuộc sống, bởi học tập là học qua trải nghiệm.
Những giá trị trải nghiệm học tập cần được là trải nghiệm, được học thật, sống thật và tôn trọng những giá trị nhân bản của con người thật. Vì vậy, việc dạy học phải có sự gắn kết giữa nội dung lý thuyết và thực tiễn từ cuộc sống, giá trị của tự do được đề cao, nhà trường là xã hội, học thông qua tự trải nghiệm, học tập phải gắn liền với lợi ích của cuộc sống, học là để thích ứng với môi trường cuộc sống luôn thay đổi. Ông cũng cho rằng “người thầy nào không cho phép và không khuyến khích tính đa dạng trong giải quyết vấn đề thì người thầy đó đang “bịt mắt” học sinh, xét trên phương diện trí tuệ - tức là giới hạn tầm nhìn của chúng vào một con đường mà trí óc của người thầy vừa hay cho phép” (Dewey, 2008). Với chủ trương như vậy nên quan điểm của John Dewey đối với người dạy phải là những giáo viên có chuyên môn giỏi, có sự hiểu biết thấu đáo về những chủ đề giảng dạy, phải có đầy đủ kỹ năng về tâm lý và nghiệp vụ sư phạm phù hợp để có thể tác động giúp học sinh tự trải nghiệm đầy đủ với những khối lượng kiến thức ngày càng được rộng mở.
Marzano, Pickering và Pollock (2013) cũng có những đề xuất về một số phương pháp giảng dạy hiệu quả dựa trên kinh nghiệm rút ra từ nhiều công trình nghiên cứu giảng dạy và các lý thuyết tổng hợp với mục tiêu là nâng cao kỹ năng giảng dạy của 10 giáo viên khi đứng lớp và phát huy cao độ khả năng học tập của học sinh. Các tác giả cũng đã chỉ ra được nhân tố tác động trực tiếp đến việc học tập của học sinh đó chính là giáo viên nên những phương pháp giảng dạy khi đề xuất đều có sự hướng dẫn và phân tích cụ thể. Ngoài ra, tài liệu này cũng chỉ ra rằng người giáo viên nên quan tâm đến việc người học học như thế nào chứ không chỉ quan tâm là mỗi ngày mình sẽ lên lớp dạy cái gì; họ cần có một tầm nhìn lâu dài đối với việc lựa chọn, áp dụng những phương pháp giảng dạy thích hợp và từng bước thực hiện tầm nhìn lâu dài đó để nâng cao chất lượng giáo dục. Bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu, Mulder (2012) đã thực hiện nghiên cứu về Giáo dục và Đào tạo dựa trên năng lực– về các câu hỏi thường gặp với mục đích đưa ra các câu trả lời ngắn gọn và thiết thực nhất cho các câu hỏi: (1) Tại sao phải giáo dục dựa trên năng lực?, (2) Giáo dục dựa trên năng lực là gì?, (3) Giáo dục dựa trên năng lực có quan hệ như thế nào với giáo dục dựa trên kết quả?, (4) Các nguyên tắc của giáo dục dựa trên năng lực là gì?, (5) Giáo dục dựa trên năng lực có hứa hẹn gì đối với các nước đang phát triển?, (6) Giáo dục dựa trên năng lực có khả thi trong các trường đại học với nguồn lực hạn chế không?, (7) Những chiến lược nào có thể được sử dụng để phát triển chương trình giảng dạy dựa trên năng lực?, (8) Làm thế nào để đi từ chương trình giảng dạy dựa trên năng lực sang các giáo án một cách tích cực và lấy học sinh làm trung tâm? Tác giả đã có cái nhìn tổng quan về những câu hỏi cơ bản mà bản thân thường xuyên nhận được liên quan đến việc phát triển và thực hiện giáo dục và đào tạo dựa trên năng lực.
Và cũng khẳng định rằng đây không phải là câu trả lời duy nhất hay tuyệt đối cho các câu hỏi. Bởi lẽ, mỗi người có thể đưa ra các câu trả lời khác nhau. Tuy nhiên, “giáo dục dựa trên năng lực là một sự đổi mới giáo dục đầy hứa hẹn, với điều kiện nó thực sự dựa trên năng lực và toàn diện” (Mulder, 2012) chứ không chỉ là một cụm từ. Một điều đáng chú ý là hiệu quả của giáo dục dựa trên năng lực phải xem xét đến cả một quá trình dài hạn chứ không phải là một sớm một chiều.
Nghiên cứu của Levine và Patrick (2019) về vấn đề Giáo dục dựa trên năng lực được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu để trình bày định nghĩa mới, được phát triển với nhiều ý kiến đóng góp từ những người được mời tham dự Hội nghị thượng 11 đỉnh quốc gia lần thứ hai về Giáo dục dựa trên năng lực K-12 vào năm 2017 và từ một nhóm cố vấn kỹ thuật gồm hơn 40 chuyên gia và nhà lãnh đạo trong lĩnh vực này. Nghiên cứu bao gồm một tập hợp các tuyên bố về niềm tin, câu trả lời cho các câu hỏi thường gặp và một cuộc thảo luận ngắn gọn về những quan niệm sai lầm phổ biến về giáo dục dựa trên năng lực, đồng thời cung cấp các nguồn lực để tìm hiểu sâu hơn về các chính sách và thực tiễn giáo dục dựa trên năng lực. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, giáo dục dựa trên năng lực được thiết kế để đáp ứng việc chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống sang mô hình giáo dục đảm bảo công bằng và thúc đẩy sự tham gia sâu sắc của học sinh vào học tập. Định nghĩa sửa đổi về giáo dục dựa trên năng lực sẽ giúp xây dựng lĩnh vực này bằng cách cung cấp sự hiểu biết chung về các yếu tố chính của hệ thống dựa trên năng lực.
Các tuyên bố về niềm tin, câu hỏi thường gặp và các nguồn tài nguyên đi kèm sẽ hỗ trợ việc thiết kế và triển khai các hệ thống hiệu quả, chất lượng cao, cần thiết để đảm bảo cho mọi học sinh thành công trong thế giới hiện đại. Trên cơ sở nghiên cứu về thực hành giáo dục dựa trên năng lực, Curry (2017) đã đưa ra định hướng cho giảng viên, sinh viên, quản trị viên, cơ quan quản lý và nhà tuyển dụng những khái niệm quan trọng cần thiết để vận hành các phương pháp tiếp cận dựa trên năng lực trong phạm vi trách nhiệm của họ và đặc biệt là giảm thiểu các hạn chế của giáo dục dựa trên năng lực (Competency Based-Education – CBE). Đồng thời đưa ra một số hướng dẫn để đàm phán, hỗ trợ và duy trì CBE để nó hoạt động tối ưu cho tất cả những người tham gia trong doanh nghiệp giáo dục. Nghiên cứu không phản đối hay ủng hộ các phương pháp tiếp cận CBE mà chỉ ra tính thực tiễn hoạt động của CBE.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, dù có những giới hạn về khái niệm và triển khai thì mục tiêu mà CBE hướng tới vẫn là cung cấp cho người học các năng lực phù hợp để cải thiện hiệu suất làm việc và học tập. Kết quả nghiên cứu của Voorhees (2001) ghi nhận rằng việc vận dụng cách tiếp giáo dục theo định hướng phát triển năng lực là xu thế ngày càng gia tăng do nhu cầu từ cộng đồng và từ nền kinh tế. Mặc dù có những phản biện đối với cách tiếp cận này cho rằng việc đi theo những tiêu chuẩn năng lực do bên ngoài áp đặt có thể làm suy yếu các mục tiêu của giáo dục (nhất là giáo dục đại học); và số khác có thể chưa có sự thống nhất về việc trong tổng số các trải nghiệm giáo dục đa dạng của người học thì đâu là 12 những nội dung sẽ được chọn làm chuẩn năng lực để đo lường. Dù rằng, việc thực thi hướng tiếp cận học tập dựa trên năng lực có thể không giúp giải quyết được tất cả các vấn đề liên quan đến quá trình dạy và học nhưng nó giúp chúng ta tập trung vào thể hiện và thành quả đầu ra của người học.
Các mô hình định hướng năng lực (competency- based models) được phát triển dựa trên các thành tựu tiên phong có thể được sử dụng để thực thi và cải tiến chương trình ở cấp độ tổ chức. Các mô hình này có thể cung cấp nền tảng để tổ chức xây dựng các mô hình và tiết kiệm thời gian trong quá trình thực thi. Chúng có thể phục vụ như những công cụ hỗ trợ tổ chức trong việc đáp lại những thay đổi trong giáo dục. Tác giả nêu ra hai mô hình chính: Mô hình giáo dục tổng thể (General Education Model), tức là mô hình được xây dựng dựa theo các chương trình giáo dục tổng thể; và mô hình dựa trên nền công nghiệp (Industry-Based Model), tức là mô hình được xây dựng dựa trên cơ sở tham chiếu các năng lực do nền công nghiệp đòi hỏi và yêu cầu.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những gợi ý thực hành để ứng dụng các mô hình này trong bối cảnh tổ chức giáo dục. Có thể thấy được rằng hoạt động dạy học được rất nhiều nhà sư phạm quan tâm và nghiên cứu để hướng tới sự phát triển năng lực của người học là yêu cầu tất yếu góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Về hoạt động dạy học môn GDQP&AN trên thế thới thì có một vài công trình nghiên cứu như sau: Drapikowska (2018) thực hiện nghiên cứu về quan điểm của học sinh đối với việc tích hợp Giáo dục An ninh (Security Education) vào trong nhà trường Trung học Phổ thông. Tác giả thực hiện phỏng vấn đối với 40 sinh viên tại Đại học Nghiên cứu Chiến tranh (War Studies University), Ba Lan.
Tại Ba Lan, việc tích hợp nội dung giáo dục về an ninh vào giáo dục phổ thông là nội dung bắt buộc được pháp luật quy định. Tối thiểu, một năm học có khoảng 30 giờ tích hợp về giáo dục an ninh. Kết quả nghiên cứu này cho thấy, các sinh viên chỉ ra rằng nội dung hữu ích nhất trong quá trình học tập môn Giáo dục An ninh khi họ còn ở trường phổ thông là nội dung về sơ cứu. Đây là nội dung không được các sinh viên đánh giá không chỉ hữu ích mà còn tạo được hứng thú để họ tham gia.