Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây cà chua 1.1 Sơ lược về cây cà chua Ca chua (Solanum lycopersicon) thuộc họ cà (Solanaceae) có nguồn sốc từ Châu Mỹ (Peru, Bolivia và Equado). Những loại cà chua hoang dại vẫn được tìm thấy ở dọc theo dãy núi Ando (Peru), Equado va Bolivia. Ca chua là một loại rau ăn quả phô biến được trồng và tiêu thụ tại Việt Nam và trên thế giới. Sản lượng cà chua sản xuất liên tục tăng trong những năm gần đây.
Theo số liệu của tổ chức Nông lương liên hiệp quốc (FAO, 2020), diện tích cà chua sản xuất năm 2019 trên toàn thế giới đạt 5. Tốc độ gia tăng về diện tích sản xuất chậm, trong 6 năm luôn duy trì trong khoảng trên 4,7 triệu ha (2013 — 2019). Sản lượng cà chua tăng 13,68% từ 159,02 triệu tấn (2013) lên 180,77 triệu tấn (2019). Ở Việt Nam, diện tích sản xuất cà chua cả nước trong những năm gần đây dao động khoảng từ 23 — 25 nghìn ha, giảm 6,9% so với năm 2015 (25,48 nghìn ha) (P.
Trong đó, các tỉnh thuộc khu vực phía Bắc và khu vực Lâm Đồng diện tích sản xuất khoảng trên 19.418 ha, chiếm 81,6% tổng diện tích sản xuất ca chua cả nước.2 Đặc điểm thực vật học Rễ: Rễ chùm, ăn sâu và phân nhánh mạnh, khả năng phát triển rễ phụ rất lớn. Trong điều kiện tối hảo những giống tăng trưởng mạnh có rễ ăn sâu 1 — 1,5m và rộng 1,5 — 2,5m. Vì vậy cà chua chịu hạn tốt. Khi rễ chính bị đứt, bộ rễ phụ phát triển và phân bồ rộng.
Bộ rê ăn sâu, cạn, mạnh hay yêu đều có liên quan đên mức độ phân cành và phát triển của bộ phận trên mặt đất. Do đó, khi trồng cà chua tỉa cành, bam ngọn, bộ rễ thường ăn nông và hẹp hơn so với điều kiện trồng tự nhiên. Thân: Thân tròn, thắng đứng, phủ nhiều lông, khi cây lớn gốc thân dần dần hóa gỗ. Thân mang lá và phát hoa.
Tùy thuộc vào khả năng sinh trưởng và phân nhánh, các giống cà chua được chia làm 4 dạng: Dang sinh trưởng hữu han (determinate): Thân cứng, mọc đứng, cà chua ngừng sinh trưởng sau khi đã cho một số lượng quả nhất định, khoảng 4 — 6 chùm qua. Chùm quả đầu tiên có ở lá thứ 5 — 7, sau đó cách 2 lá cho 1 chùm hoa. Loại sinh trưởng này thích hợp khi trồng ngoài đồng. Dang sinh trưởng vô han (indeterminate): Cà chua có ngọn lớn không ngừng, chùm hoa đầu thường ở lá thứ 9 — 12, những chùm hoa sau cách 3 lá.
Nếu không hạn chế chiều cao, chúng có thể cao 3 — 5 m hoặc hơn nữa. Loại sinh trưởng này thích hợp trồng trong điều kiện nhà mảng. Dang sinh trưởng bán hữu hạn (semideterminate): Tương tự như dạng hữu han nhưng số chùm hoa của loai này nhiều hơn khoảng 8 — 10 chùm. Dang lùn (dwart): Cà chua cao không quá 90 — 120 cm, cây đâm chồi mạnh, it chùm hoa, cho trái tập trung, phục vụ cho việc trồng day và thu hoạch cơ giới.
Thân có dạng thân bụi, cây nhỏ. Lá: Lá thuộc lá kép lông chim lẻ, mỗi lá có 3 — 4 đôi lá chét, ngọn lá có một lá riêng gọi là lá đỉnh. Rìa lá chét đều có răng cưa nông hay sâu tùy giống. Phiến lá thường phủ lông tơ.
Hoa: Hoa mọc thành chùm, lưỡng tính, tự thụ phấn là chính. Sự thụ phấn chéo ở ca chua khó xảy ra. Số lượng hoa trên chùm thay đôi tùy giống và thời tiết, thường từ 5 — 20 hoa. Trái: Trái thuộc loại mong nước, có hình dạng thay đổi từ tròn, bầu dục đến dai.
Vỏ trái có thé nhẫn hay có khía. Màu sắc của trái thay đổi tùy giống và điều kiện thời tiết. Quá trình chín của trái chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn trái xanh: Trái và hạt phát triên chưa hoàn toàn, trái chưa có mùi Vi, mau sac đặc trưng của giông. Giai đoạn chín xanh: Trái đã phát triên đây đủ, trái có màu xanh sáng, keo xung quanh hạt được hình thành.
Giai đoạn chín vàng: Phần đỉnh trái xuất hiện màu hồng, xung quanh cuốn trái vẫn còn xanh. Giai đoạn chin đỏ: Trái xuât hiện mau sắc vôn có của giông, có thê thu hoạch đê ăn tươi. Hạt: Hạt cà nhỏ, dẹp, nhiêu lông, màu vàng sáng hoặc hơi tôi. Hạt nắm trong buồng chứa nhiều dịch bảo.
Trung bình có 50 — 350 hạt trong trái.3 Yêu cầu ngoại cảnh 1.1 Ánh sáng Anh sáng là một yếu tổ cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển của cây. Anh sáng cung cấp năng lượng cho quang hợp. Thiếu ánh sáng, cường độ quang hợp thấp. Cường độ quang hợp tăng khi cường độ và chất lượng ánh sáng tăng.
Nhưng khi cường độ ánh sáng vượt quá mức giới hạn chịu đựng thì dù cường độ ánh sáng tăng nhưng cường độ quang hợp vẫn giảm. Ca chua là cây ưa sáng, cường độ ánh sáng thích hợp cho cây sinh trưởng là 2.000 lux, không chịu ảnh hưởng bởi quang kỳ. Ở cường độ ánh sáng thấp thì cường độ hô hấp của cả chua tăng, do đó cây sinh trưởng kém (Phạm Văn Quang và cs, 2023).2 Độ am Cây cà chua yêu cầu độ 4m cao khoảng 80 — 90% vào ban ngày và độ ẩm từ 65 — 75% vào ban đêm. Độ am trên 90% và đưới 65% có thé gây thối dau hoa.
Cà chua và các loại cây trồng thường có nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng từ 25 - 30°C trong thời gian ban ngày và 20°C vào ban đêm, nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn đều ảnh hưởng đến cây trồng (Camejo và cs, 2005; Zhou và cs, 2015; Zhou và cs, 5 2018). Nhiệt độ không khí là yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng, cây có thé tồn tại ở ngưỡng nhiệt dưới 10°C và trên 38°C nhưng mô cây bị tổn thương (Nicola va cs, 2009).2 Sơ lược về giá thể 1.1 Khái niệm về giá thể Giá thể trồng cây thường gồm: phần rắn, phần rỗng, nước hữu hiệu và nước dư, trong đó quan trọng nhất là phần rỗng, tạo cho giá thê thông thoáng, giúp bộ rễ cây hô hấp đồng thời giúp các vi sinh vật có ích phát triển, nước hữu hiệu giúp cây hút dễ dàng. Khi sử dụng giá thé thay cho đất thì việc bổ sung thêm các chất dinh dưỡng và điều chỉnh pH thích hợp là cần thiết để cây trồng phát triển tốt (Huỳnh Thanh Hùng, 2008). Giá thé là cách gọi chung cho tất cả các hỗn hợp của các vật liệu có thé giữ nước, tạo độ thoáng cho sự phát triển của cây, hỗn hợp này được dùng đơn lẻ hoặc trộn lại dé tan dụng ưu điểm của từng loai.
Giá thé có thé chia làm hai loại: Giá thé tro: đá, sỏi, cát, than đá, các loại giá thé này chủ yếu làm giá đỡ cho cây, cung câp âm độ, độ thoáng. Giá thể dinh dưỡng: các lọai phân hữu cơ, đất, tro trâu, làm giá đỡ cho cây, cung cấp âm độ, độ thoáng, đồng thời cung cấp dinh dưỡng và cải thiện độ pH thích hợp với từng đối tượng cây trồng.2 Các đặc tính của giá thể 1.1 Khả năng giữ 4m và độ thoáng khí Giá thể cung cấp nước và oxy cho cây trồng. Những khoảng trống trong giá thể cho thấy cả hai đặc tính về khả năng giữ âm và độ thoáng khí. Vật liệu quá mịn làm cho các khoảng trống quá nhỏ gây khó khăn cho việc thoát nước.
Ngược lại, vật liệu quá thô tạo nên những khoảng trống lớn chứa nhiều oxy nhưng không giữ được nước. Khi trồng cây trong chậu giá thể cần có khả năng giữ nước và thông thoáng nhiều hơn so với trồng ngoài đồng, nén chặt giá thé làm giảm các khoảng trông và lượng nước hữu dụng cho cây trồng.2 Khả năng trao déi cation (CEC) và pH CEC thé hiện khả năng trao đổi cation của dung dịch, CEC càng cao khả năng giữ lại các dinh dưỡng càng nhiều, CEC cao bao gồm đất, đất đen, vermiculite và những thành phần có chỉ số CEC thấp là perlite, cát (John và Harold, 1999). pH ảnh hưởng đến khả năng hữu dụng của các chất đinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng được. pH thay đổi theo thành phần của giá thể, loại phân bón, pH nước tưới và thời gian sử dụng.
pH trong khoảng 5,5 - 6,5 có thể ảnh hưởng tốt nhất đến khả năng hữu dụng của tat cả các nguyên tố đinh dưỡng trong dat (Tran Văn Thịnh, 2016).3 Khối lượng riêng Khối lượng riêng là một trong những tiêu chí đầu tiên để lựa chọn giá thể. Các giá thé như xơ dừa, mun cưa khi khô có khối lượng riêng rất nhỏ, tuy nhiên do khả năng giữ nước cao nên khi được tưới nước sẽ trở nên rất 4m. Khối lượng riêng của giá thé được khuyến cáo sử dụng là 0,1 - 0,8 kg/dm? (Lê Thị Thu Thao, 2015).4 Vai trò của giá thể đối với cây trồng Giá thể được xem là môi trường giúp cây đứng vững nhờ sự bám chặt của rễ, cung cấp nước, dinh dưỡng cho cây trồng và điều hòa nhiệt độ dựa vào khả năng giữ nước va chất dinh dưỡng của giá thé. Việc tận dụng các nguồn nguyên liệu có sẵn tại địa phương và phụ phẩm nông nghiệp như mụn dừa, tro trấu, rễ lục bình làm giá thé trồng thay đất sẽ đễ dàng kiểm soát sâu bệnh hại, từ đó duy trì năng suất và nâng cao phẩm chất nông sản (Truong Thi Cam Nhung, 2016).3 Đặc điểm của một số vật liệu giá thể 1.1 Phần rơm Nghề trồng nam ở nước ta ngày càng phát triển mạnh dẫn tới phế phụ phẩm sau trồng nam cũng ngày càng nhiều, trong khi chỉ một phần được xử lý thành phân hữu cơ hay làm thức ăn nuôi giun quế, phần còn lại chủ yếu bị thải bỏ và trở thành nguồn gây ô nhiễm môi trường.
Đây là một sự lãng phí nguồn nguyên liệu hữu cơ do bã nắm vẫn còn dinh dưỡng tồn dư khá cao mà không được tái sử dụng hợp lý. Rom sau ủ nam là phan cơ chất còn lại sau khi người dân khai thác hết nam rơm. Rơm và rạ vừa được sử dụng làm chất đốt, vừa được dùng làm thức ăn trong chăn nuôi đồng thời cũng được ding làm nguyên liệu ủ phân hữu cơ. Bên cạnh các biện pháp truyền thống trên, người nông dân còn sử dụng phế phụ phâm làm giá thé trồng rau, hoa, đặc biệt trồng nắm rơm.
Rơm rạ được thu gom và làm chín nhằm phân hủy một số độc tố trong rơm rạ do khi canh tác ta sử dụng một số nông dược. Sau đó ép lại thành bánh rồi nuôi nam trên những bánh rơm đó.