Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cà chua (Solanum lycopersicum) là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, cung cấp carbohydrate, protein, lipid, các axit hữu cơ và nhiều loại vitamin thiết yếu (B1, B2, C, E), đồng thời mang lại giá trị kinh tế quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp. Canh tác cà chua trong nhà màng đang là xu hướng tất yếu nhằm kiểm soát các yếu tố vi khí hậu (nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng), hạn chế sự xâm nhiễm của sâu bệnh hại, giảm thiểu rủi ro thời tiết và tối ưu hóa năng suất trong bối cảnh quỹ đất canh tác nông nghiệp ngày càng thu hẹp.
Tại khu vực phía Nam, tỉnh Lâm Đồng là vùng sản xuất cà chua trọng điểm cung ứng cho thị trường, nhưng hiện đối mặt với tình trạng tồn dư dịch hại trong đất, khó khăn trong việc mở rộng diện tích và chi phí sản xuất gia tăng. Trong khi đó, Thành phố Hồ Chí Minh là thị trường tiêu thụ nông sản lớn nhất và đang có nhiều chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Việc phát triển mô hình trồng cà chua trong nhà màng tại Thành phố Hồ Chí Minh giúp tận dụng các chính sách hỗ trợ, tối ưu chi phí vận chuyển và giảm hao hụt sau thu hoạch. Tuy nhiên, cây cà chua chưa được canh tác phổ biến tại địa phương, đòi hỏi phải xác định được giống thích nghi cùng giải pháp kỹ thuật phù hợp về giá thể hữu cơ và chế độ dinh dưỡng để nâng cao năng suất và chất lượng quả.
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định được loại giá thể phù hợp cho sinh trưởng, năng suất và độ brix của ba giống cà chua trồng trong điều kiện nhà màng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Để đạt được mục tiêu này, các nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Bố trí thí nghiệm hai yếu tố trong điều kiện nhà màng.
- Theo dõi các chỉ tiêu về đặc tính sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của ba giống cà chua.
- Đánh giá và tuyển chọn được loại giá thể phù hợp giúp cây cà chua sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất và phẩm chất quả cao.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: 2 công thức giá thể gồm giá thể đối chứng (80% cát + 20% mụn dừa theo thể tích) và giá thể thử nghiệm NL (sản xuất từ bã nấm rơm, mụn dừa và phân bò ủ compost hiếu khí 28 - 35 ngày); 3 giống cà chua sinh trưởng vô hạn gồm SXTS 3149, SXTS 6184 và SXTL.
- Phạm vi không gian: Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (quy mô diện tích 320 m²).
- Phạm vi thời gian: Thí nghiệm triển khai từ tháng 11 năm 2023 đến tháng 4 năm 2024.
- Giới hạn đề tài: Do các giống nghiên cứu thuộc dạng hình sinh trưởng vô hạn và giới hạn thời gian thực hiện, thí nghiệm chỉ theo dõi, đánh giá cho đến khi kết thúc thu hoạch 5 chùm quả đầu tiên; đồng thời giá thể NL đang trong giai đoạn nghiên cứu chưa thương mại hóa nên đề tài không hạch toán hiệu quả kinh tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên cơ sở lý thuyết về sinh lý thực vật, đặc điểm thực vật học của cây cà chua (Solanum lycopersicum, họ Solanaceae) và kỹ thuật canh tác cây trồng không dùng đất (soil-less culture). Cây cà chua sinh trưởng vô hạn có đặc tính thân leo, phát triển ngọn liên tục, chùm hoa đầu tiên xuất hiện ở nách lá thứ 9 - 12 và cách 3 lá lại cho một chùm hoa tiếp theo, rất thích hợp cho canh tác chuyên canh trong nhà màng. Nhu cầu ngoại cảnh chuẩn của cây cà chua đòi hỏi cường độ ánh sáng khoảng 2.000 lux, độ ẩm ban ngày 80 - 90%, ban đêm 65 - 75% và nhiệt độ tối ưu trong khoảng 25 - 30°C ban ngày, 20°C ban đêm.
Về cơ sở giá thể, môi trường rễ đóng vai trò cung cấp nước, oxy và chất dinh dưỡng thông qua các chỉ số lý hóa như độ thoáng khí, khả năng giữ nước, dung lượng trao đổi cation (CEC) và độ pH tối ưu (5,5 - 6,5). Việc tận dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp như bã nấm rơm hoai mục (giàu hữu cơ, khoáng N, P, K, Ca, Mg), mụn dừa (đã xử lý tannin và xả mặn), tro trấu/trấu hun và phân bò hoai mục giúp tạo ra giá thể có độ xốp cao, ổn định vi sinh vật hữu ích và giảm thiểu mầm bệnh truyền từ đất.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế và thực hiện như sau:
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm 2 yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (Completely Randomized Design - CRD) với 6 nghiệm thức và 3 lần lặp lại (tổng số 18 ô thí nghiệm).
- Yếu tố A (Giá thể): A1 - Giá thể đối chứng (80% cát + 20% xơ dừa/mụn dừa); A2 - Giá thể NL (bã nấm rơm + mụn dừa + phân bò ủ compost hiếu khí).
- Yếu tố B (Giống cà chua): B1 - Giống SXTS 3149; B2 - Giống SXTS 6184; B3 - Giống SXTL.
- Quy cách ô thí nghiệm: Cây con sau khi gieo ươm đạt 3 - 4 lá thật (15 - 20 ngày sau gieo) được trồng vào bầu nhựa thể tích 14 lít (1 cây/bầu). Mỗi ô cơ sở gồm 9 cây, diện tích ô là 2,2 m x 3,0 m = 6,6 m².
- Chế độ chăm sóc và dinh dưỡng: Nước tưới và dinh dưỡng được cấp qua hệ thống tưới nhỏ giọt tự động. Lượng nước tưới biến thiên từ 0,9 - 1,5 lít/cây/ngày (giai đoạn trồng - ra hoa, 7 - 8 lần tưới/ngày) đến 1,5 - 2,3 lít/cây/ngày (giai đoạn đậu quả - thu hoạch, 8 - 9 lần tưới/ngày). Dung dịch dinh dưỡng kết hợp đạm cá, dịch dưa lưới cùng công thức khoáng đa vi lượng (N, P, K, Ca, Mg, Cu, Zn, Fe, Mn, Mo, Bo) điều chỉnh nồng độ theo 3 giai đoạn: 0 - 6 tuần, 6 - 12 tuần và 12 - 16 tuần sau trồng. Thực hiện tỉa chồi nách dưới chùm hoa đầu tiên, treo dây cố định thân và rung hoa hỗ trợ thụ phấn.
- Thu thập dữ liệu: Chọn cố định và đánh dấu 5 cây trên mỗi ô cơ sở để theo dõi định kỳ 7 ngày/lần bắt đầu từ 7 ngày sau trồng (NST). Chỉ tiêu theo dõi gồm: chiều cao cây (thước dây), số lá trên thân chính, diện tích lá (đo bằng phần mềm ImageJ), đường kính gốc thân (thước kẹp đo tại vị trí cách sẹo lá mầm 2 cm vào giai đoạn kết thúc), chiều cao chùm hoa đầu tiên, số hoa/chùm, số quả/chùm, tỷ lệ bệnh thối đít quả (blossom-end rot), khối lượng trung bình quả (cân điện tử), đường kính quả, chiều dài quả, năng suất thực thu (NSTT), năng suất thương phẩm (NSTP) tính trên 1000 m² và độ Brix (đo khúc xạ kế từ 15 quả mẫu ngẫu nhiên đợt thu hoạch 2).
- Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê sơ bộ bằng Microsoft Excel, phân tích phương sai (ANOVA) bằng phần mềm RStudio 4, kiểm định so sánh phân hạng trung bình bằng trắc nghiệm Tukey ở mức ý nghĩa α = 0,05.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết các nghiên cứu trong nước và quốc tế về cây cà chua và công nghệ giá thể. Tác giả trình bày chi tiết nguồn gốc lịch sử của cà chua từ vùng Nam Mỹ (Peru, Bolivia, Ecuador), phân loại thành 4 nhóm hình thái sinh trưởng (hữu hạn, vô hạn, bán hữu hạn và dạng lùn), cấu tạo thực vật học (rễ, thân, lá kép lông chim lẻ, hoa chùm lưỡng tính tự thụ, các pha chín của quả mọng) cùng các ngưỡng sinh thái về ánh sáng, nhiệt độ và ẩm độ.
Phần giá thể đi sâu vào khái niệm phân loại (giá thể trơ và giá thể dinh dưỡng), các tính chất vật lý và hóa học cốt lõi quyết định đến hệ thống rễ (độ thoáng khí, dung trọng, tỷ trọng, độ rỗng, CEC, pH). Tác giả cung cấp dữ liệu đặc tính lý hóa của các nguồn nguyên liệu phối trộn như mụn dừa, phân rơm hoai mục, phân bò ủ và than sinh học. Chương 1 cũng điểm lại các thành tựu chọn tạo giống cà chua trên thế giới (công trình của AVRDC, MARDI) và quá trình phát triển giống cà chua tại Việt Nam qua các giai đoạn từ năm 1968 đến nay, chỉ ra khoảng trống thực tiễn khi giống tự sản xuất trong nước chỉ mới đáp ứng khoảng 7% nhu cầu, đồng thời khẳng định việc hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác không dùng đất trong nhà màng là hướng đi cấp thiết.
| Chỉ tiêu lý hóa |
Đơn vị |
Mụn dừa |
Phân rơm |
Phân bò |
| pH (H₂O) |
- |
7,22 |
8,46 |
5,75 |
| EC |
dS/m |
3,24 |
- |
2,66 |
| Dung trọng |
g/cm³ |
0,20 |
- |
0,58 |
| Tỷ trọng |
g/cm³ |
1,41 |
- |
1,34 |
| Độ rỗng |
% |
63,12 |
- |
56,72 |
| Độ ẩm |
% |
14,16 |
48,10 |
14,28 |
| Carbon hữu cơ |
% |
39,43 |
36,50 |
23,21 |
| N tổng số |
% |
0,48 |
1,74 |
1,36 |
| Tỷ lệ C/N |
- |
82,15 |
20,98 |
17,07 |
| P₂O₅ tổng số |
% |
0,11 |
0,61 |
1,81 |
| K₂O tổng số |
% |
0,47 |
1,65 |
1,52 |
| Tannin |
% |
0,182 |
- |
- |
Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết địa điểm, thời gian thí nghiệm (11/2023 - 04/2024) và điều kiện vi khí hậu tại Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Diễn biến thời tiết trải qua hai giai đoạn: giai đoạn Đông Xuân (11/2023 - 02/2024) có nhiệt độ trung bình 28,4 - 29,4°C, ẩm độ 68,4 - 80,1% thuận lợi cho cây sinh trưởng; giai đoạn Hè Thu (03/2024 - 04/2024) nắng nóng với nhiệt độ trung bình 30,5 - 30,6°C, nhiệt độ cao nhất đạt 37,0 - 37,2°C gây ảnh hưởng bất lợi đến quá trình thụ phấn và đậu quả.
Chương này trình bày chi tiết đặc điểm của 3 giống cà chua thí nghiệm (SXTS 3149, SXTS 6184, SXTL) và phân tích lý hóa của 2 loại giá thể trước khi đưa vào trồng:
| Chỉ tiêu lý hóa |
Đơn vị |
Giá thể đối chứng (80% cát + 20% mụn dừa) |
Giá thể NL (Ủ compost hiếu khí) |
| Độ thoáng khí |
%, v/v |
28,5 |
27,9 |
| Khả năng giữ nước |
%, v/v |
46,7 |
48,5 |
| Độ rỗng |
%, v/v |
75,2 |
76,4 |
| pH (H₂O) |
- |
6,50 |
6,55 |
| EC |
dS/m |
1,90 |
1,24 |
| Carbon hữu cơ |
% |
19,22 |
24,86 |
| N tổng số |
% |
1,29 |
1,42 |
| P₂O₅ tổng số |
% |
0,31 |
0,44 |
| K₂O tổng số |
% |
1,12 |
1,76 |
Cùng với đó, chương 2 thiết lập đầy đủ sơ đồ bố trí CRD 2 yếu tố, bảng định mức nước tưới nhỏ giọt theo chu kỳ phát triển, nồng độ nguyên tố dung dịch khoáng đa vi lượng kết hợp đạm cá và dịch dưa lưới, phương pháp theo dõi 10 nhóm chỉ tiêu nông học và phương pháp phân tích thống kê phương sai ANOVA trên phần mềm RStudio 4.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và thảo luận chuyên sâu qua 10 mục nội dung:
- Chiều cao cây: Giá thể NL kích thích tăng trưởng chiều cao vượt trội ở giai đoạn 7 - 35 NST (đạt 15,2 cm ở 7 NST). Đến 70 NST, chiều cao không còn khác biệt ý nghĩa giữa 2 giá thể nhưng phân hóa rõ rệt theo giống: giống SXTS 3149 đạt cao nhất (263,0 cm), tiếp theo là SXTS 6184 (241,0 cm) và thấp nhất là SXTL (207,5 cm).
- Số lá trên thân chính: Giá thể NL duy trì tốc độ phát triển lá tốt hơn giá thể đối chứng trong hầu hết các giai đoạn, đạt trung bình 29,0 lá/cây ở 70 NST. Giống SXTS 3149 có số lá nhiều nhất.
- Diện tích lá: Ở 21 NST, giá thể NL cho diện tích lá vượt trội; giống SXTL đạt diện tích lá lớn nhất (1988,0 cm²), cao hơn có ý nghĩa thống kê so với SXTS 3149 (1614,5 cm²) và SXTS 6184 (1312,5 cm²). Có sự tương tác có ý nghĩa thống kê giữa giá thể và giống ở giai đoạn 14 - 21 NST.
- Đường kính gốc: Giá thể NL giúp đường kính gốc đạt 12,7 mm, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với giá thể đối chứng (11,7 mm). Yếu tố giống ít ảnh hưởng đến chỉ tiêu này (SXTS 3149 đạt 12,4 mm, SXTL đạt 12,4 mm, SXTS 6184 đạt 12,3 mm).
- Chiều cao chùm hoa đầu tiên: Yếu tố giá thể không ảnh hưởng (trung bình 59,8 - 60,3 cm), nhưng phụ thuộc hoàn toàn vào đặc tính di truyền của giống: giống SXTS 6184 xuất hiện chùm hoa đầu tiên ở vị trí thấp nhất (55,5 cm), tiếp đến là SXTL (60,5 cm) và SXTS 3149 (63,1 cm).
- Số hoa trên chùm: Ở giai đoạn 63 NST, giá thể đối chứng cho số hoa trung bình cao hơn (5,3 hoa/chùm) so với giá thể NL (3,7 hoa/chùm). Giống SXTS 3149 cho số hoa nhiều nhất (5,7 hoa/chùm ở 56 NST).
- Số quả trên chùm: Giá thể và giống ít ảnh hưởng đến số quả đậu trên chùm ở giai đoạn 70 NST (dao động 3,5 - 3,6 quả/chùm). Nền nhiệt độ cao trong nhà màng (32 - 35°C) là nguyên nhân chính làm giảm sức sống hạt phấn và tỷ lệ đậu quả.
- Tỷ lệ bệnh thối đít quả: Giá thể không tác động đến tỷ lệ bệnh thối đít quả. Bệnh phụ thuộc vào giống: giống SXTS 6184 có tỷ lệ bệnh cao nhất (2,9%), khác biệt có ý nghĩa so với SXTS 3149 (1,2%) và SXTL (1,1%).
- Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất: Giá thể NL làm tăng khối lượng quả (129,0 g so với 117,0 g của đối chứng), đường kính quả (62,6 mm so với 60,9 mm), chiều dài quả (58,8 mm so với 54,9 mm). Năng suất thực thu trên giá thể NL đạt 3,6 tấn/1000 m² (đối chứng đạt 3,3 tấn/1000 m²); năng suất thương phẩm đạt 3,5 tấn/1000 m² (đối chứng đạt 3,2 tấn/1000 m²). Giống SXTS 3149 đạt năng suất thương phẩm cao nhất (3,8 tấn/1000 m²).
- Độ Brix quả: Giá thể đối chứng cho độ Brix trung bình cao hơn (5,1%) so với giá thể NL. Phân hóa theo giống cho thấy giống SXTL đạt độ Brix cao nhất (5,3%), tiếp đến là SXTS 6184 (5,0%) và SXTS 3149 đạt thấp nhất (4,6%).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về phản ứng sinh trưởng, các chỉ tiêu cấu thành năng suất và chất lượng của 3 giống cà chua trên hai nền giá thể trong điều kiện nhà màng tại Thành phố Hồ Chí Minh:
| Chỉ tiêu nông học & Năng suất |
Giá thể đối chứng |
Giá thể NL |
Giống SXTS 3149 |
Giống SXTS 6184 |
Giống SXTL |
Mức ý nghĩa thống kê |
| Chiều cao cây 70 NST (cm) |
237,3 |
246,0 |
263,0 |
241,0 |
207,5 |
Giống: p < 0,05; Giá thể: ns |
| Số lá trên thân chính 70 NST (lá) |
26,8 |
29,9 |
29,3 |
27,2 |
28,5 |
Giá thể: p < 0,05; Giống: ns |
| Diện tích lá 21 NST (cm²) |
1485,3 |
1791,3 |
1614,5 |
1312,5 |
1988,0 |
Giá thể: p < 0,05; Giống: p < 0,05 |
| Đường kính gốc thân (mm) |
11,7 |
12,7 |
12,4 |
12,3 |
12,4 |
Giá thể: p < 0,05; Giống: ns |
| Chiều cao chùm hoa đầu (cm) |
60,3 |
59,8 |
63,1 |
55,5 |
60,5 |
Giống: p < 0,01; Giá thể: ns |
| Khối lượng quả trung bình (g) |
117,0 |
129,0 |
112,0 |
147,0 |
111,0 |
Giá thể: p < 0,01; Giống: p < 0,01 |
| Đường kính quả (mm) |
60,9 |
62,6 |
60,1 |
65,8 |
59,3 |
Giá thể: p < 0,01; Giống: p < 0,01 |
| Chiều dài quả (mm) |
54,9 |
58,8 |
56,1 |
58,4 |
56,0 |
Giá thể: p < 0,01; Giống: p < 0,01 |
| Tỷ lệ thối đít quả (%) |
1,7 |
1,8 |
1,2 |
2,9 |
1,1 |
Giống: p < 0,05; Giá thể: ns |
| Năng suất thực thu (tấn/1000 m²) |
3,3 |
3,6 |
3,9 |
3,2 |
3,3 |
Giá thể: p < 0,05; Giống: p < 0,01 |
| Năng suất thương phẩm (tấn/1000 m²) |
3,2 |
3,5 |
3,8 |
3,1 |
3,3 |
Giá thể: p < 0,05; Giống: p < 0,01 |
| Độ Brix (%) |
5,1 |
4,8 |
4,6 |
5,0 |
5,3 |
Giá thể: p < 0,05; Giống: p < 0,01 |
Các kết luận kỹ thuật và giải pháp đề xuất từ nghiên cứu:
- Giá thể hữu cơ phối trộn NL (bã nấm rơm + mụn dừa + phân bò ủ compost hiếu khí) là nền giá thể phù hợp giúp tăng cường sinh trưởng sinh dưỡng, đường kính gốc thân, kích thước quả và nâng cao năng suất thương phẩm của cả ba giống cà chua (tăng 11,1% ở giống SXTS 3149; 6,7% ở giống SXTS 6184 và 9,7% ở giống SXTL so với giá thể đối chứng).
- Về lựa chọn giống: Giống cà chua SXTS 3149 được đề xuất sử dụng cho mục tiêu thâm canh tối đa sản lượng (đạt năng suất thương phẩm cao nhất là 3,8 tấn/1000 m² trên 5 chùm quả); trong khi đó giống SXTL phù hợp cho định hướng chất lượng cao nhờ sở hữu độ ngọt (Brix) cao nhất (5,3%) và tỷ lệ nhiễm bệnh thối đít quả thấp nhất (1,1%).
Đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Khẳng định tính khả thi của việc tận dụng và tái chế bã nấm rơm kết hợp mụn dừa và phân bò thông qua quá trình ủ compost hiếu khí để tạo ra nguồn giá thể hữu cơ dinh dưỡng giàu dinh dưỡng, thân thiện môi trường, thay thế giá thể truyền thống có hàm lượng cát cao.
- Cung cấp dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về khả năng sinh trưởng, năng suất và độ Brix của các giống cà chua sinh trưởng vô hạn phục vụ định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận nêu rõ các hạn chế xuất phát từ điều kiện thực hiện:
- Giới hạn chu kỳ theo dõi: Do các giống cà chua thí nghiệm thuộc dạng hình sinh trưởng vô hạn có thời gian sinh trưởng kéo dài, trong khi thời gian thực hiện khóa luận có hạn nên thí nghiệm chỉ dừng lại ở việc đánh giá năng suất của 5 chùm quả đầu tiên, chưa theo dõi hết toàn bộ vòng đời sinh trưởng của cây.
- Chưa đánh giá hiệu quả kinh tế: Công thức giá thể NL mới đang trong giai đoạn thử nghiệm nghiên cứu tại Khoa Nông học, chưa được thương mại hóa trên thị trường nên đề tài chưa thể hạch toán chi phí sản xuất và hiệu quả kinh tế cụ thể so với các loại giá thể thương mại khác.
- Tác động của nhiệt độ môi trường: Trong các tháng 3 và 4/2024 (vụ Hè Thu), nền nhiệt độ trong nhà màng tại Thành phố Hồ Chí Minh tăng cao (nhiệt độ tối cao 37,0 - 37,2°C), làm ảnh hưởng bất lợi đến chất lượng hạt phấn và tỷ lệ đậu quả trên chùm của các giống thí nghiệm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi ý:
- Tiếp tục mở rộng theo dõi toàn bộ chu kỳ sinh trưởng và thu hoạch các chùm quả tiếp theo của cây cà chua vô hạn trên giá thể NL.
- Nghiên cứu giải pháp hạ nhiệt và điều tiết ẩm độ trong nhà màng vào mùa nắng nóng để cải thiện tỷ lệ đậu quả.
- Hoàn thiện quy trình sản xuất giá thể NL ở quy mô bán công nghiệp và tiến hành hạch toán kinh tế toàn diện khi đưa vào sản xuất thương phẩm.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp này là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn và học thuật cho:
- Sinh viên, học viên và giảng viên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Nông nghiệp Công nghệ cao: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm CRD 2 yếu tố trong nhà màng, quy trình xử lý số liệu nông học bằng phần mềm RStudio 4 và phương pháp đo đạc diện tích lá bằng ImageJ.
- Kỹ sư nông nghiệp và các đơn vị sản xuất rau quả công nghệ cao: Ứng dụng công thức phối trộn giá thể hữu cơ compost từ phế phụ phẩm (bã nấm rơm, mụn dừa, phân bò) nhằm giảm chi phí đầu vào và hạn chế ô nhiễm môi trường.
- Các trang trại canh tác cà chua trong nhà màng tại Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận: Tham khảo quy trình tưới nhỏ giọt kết hợp dinh dưỡng đạm cá, dịch dưa lưới và công thức khoáng đa vi lượng theo 3 giai đoạn sinh trưởng, cùng cơ sở dữ liệu để chọn lựa giống cà chua phù hợp với mục tiêu năng suất hoặc chất lượng quả.
Câu hỏi thường gặp
1. Thành phần và quy trình xử lý của giá thể thử nghiệm (giá thể NL) trong nghiên cứu là gì?
Giá thể NL được phối trộn từ bã nấm rơm (sau khi đã thu hoạch nấm), mụn dừa đã qua xử lý rửa mặn/tannin và phân bò. Hỗn hợp này được ủ compost hiếu khí trong thời gian từ 28 đến 35 ngày. Kết quả phân tích lý hóa cho thấy giá thể NL đạt độ thoáng khí 27,9%, khả năng giữ nước 48,5%, độ rỗng 76,4%, pH 6,55, EC 1,24 dS/m và hàm lượng carbon hữu cơ 24,86%.
2. Năng suất thương phẩm của các giống cà chua trồng trên giá thể NL tăng bao nhiêu so với giá thể đối chứng?
Khi trồng trên nền giá thể NL, năng suất quả thương phẩm trung bình của cả 3 giống đạt 3,5 tấn/1000 m² (so với 3,2 tấn/1000 m² ở giá thể đối chứng). Cụ thể, giống SXTS 3149 tăng 11,1% (đạt 4,0 tấn/1000 m² so với 3,6 tấn/1000 m²); giống SXTS 6184 tăng 6,7% (đạt 3,2 tấn/1000 m² so với 3,0 tấn/1000 m²); và giống SXTL tăng 9,7% (đạt 3,4 tấn/1000 m² so với 3,1 tấn/1000 m²).
3. Vì sao nghiên cứu chỉ thu hoạch và tính toán năng suất trên 5 chùm quả đầu tiên?
Ba giống cà chua thí nghiệm (SXTS 3149, SXTS 6184, SXTL) đều thuộc dạng hình sinh trưởng vô hạn (indeterminate), ngọn cây tiếp tục phát triển và liên tục cho các chùm quả mới nếu không bấm ngọn. Do giới hạn thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp (tháng 11/2023 đến tháng 4/2024), tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu đến khi thu hoạch xong 5 chùm quả đầu tiên trên mỗi cây để đảm bảo tính đồng đều trong thu thập số liệu.
4. Giống cà chua nào cho năng suất cao nhất và giống nào cho độ ngọt (độ Brix) cao nhất trong thí nghiệm?
Giống SXTS 3149 cho năng suất thực thu cao nhất (3,9 tấn/1000 m²) và năng suất thương phẩm cao nhất (3,8 tấn/1000 m² trung bình trên 2 loại giá thể). Ngược lại, giống SXTL cho độ Brix quả cao nhất đạt 5,3% (khi trồng trên giá thể đối chứng đạt 5,3% và trung bình giống đạt 5,1%), thích hợp cho phân khúc chất lượng quả ngọt.
5. Bệnh thối đít quả xuất hiện trong thí nghiệm do nguyên nhân gì và giống nào bị nhiễm nặng nhất?
Bệnh thối đít quả (blossom-end rot) là bệnh rối loạn sinh lý phát sinh do sự thiếu hụt Canxi trong giai đoạn quả phát triển nhanh kết hợp với điều kiện ẩm độ thất thường. Kết quả thí nghiệm ghi nhận giá thể không làm thay đổi tỷ lệ bệnh, nhưng yếu tố giống có sự khác biệt rõ rệt: giống SXTS 6184 có tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất (2,9%), cao hơn đáng kể so với giống SXTS 3149 (1,2%) và SXTL (1,1%).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trương Hoài Tâm đã chứng minh giá thể hữu cơ compost NL (ủ từ bã nấm rơm, mụn dừa và phân bò) giúp cải thiện rõ rệt đường kính gốc, kích thước quả và làm tăng năng suất thương phẩm của cà chua trồng trong nhà màng tại Thành phố Hồ Chí Minh thêm từ 6,7% đến 11,1% so với giá thể đối chứng cát - mụn dừa. Trong ba giống khảo nghiệm, giống SXTS 3149 đạt năng suất thương phẩm cao nhất (3,8 tấn/1000 m²/5 chùm quả), trong khi giống SXTL vượt trội về độ ngọt với độ Brix đạt 5,3%. Các kết quả thực nghiệm và quy trình dinh dưỡng tưới nhỏ giọt trong nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho việc ứng dụng phụ phẩm nông nghiệp làm giá thể và lựa chọn giống cà chua thích hợp trong nông nghiệp công nghệ cao đô thị.