Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Trên Thế giới 1. Tình hình nghiên cứu về dược liệu Từ ngàn xưa, trong quá trình hái lượm các loại cây cỏ để làm thức ăn, con người đã phát hiện ra những cây cỏ có độc thì tránh, những cây cỏ ăn được thì sử dụng làm lương thực, thực phẩm; những loại cây cỏ ăn vào khỏi bệnh thì dần được tích lũy thành kinh nghiệm sử dụng làm thuốc và được truyền tụng từ đời này qua đời khác. Cùng với sự tiến hóa và phát triển của xã hội, kho tàng kiến thức về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú.
Năm 2838 Trước công nguyên, Thần Nông đã biên soạn cuốn sách “Thần nông bản thảo”. Cuốn sách có ghi chép về 364 vị thuốc và cách sử dụng. Đây là cuốn sách nền tảng cho sự phát triển của nghành y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay (dẫn theo tài liệu [9]). Năm 1595, Lý Thời Trân đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây thuốc, kinh nghiệm sử dụng và soạn ra cuốn “Bản thảo cương mục”.
Đây là cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực dược liệu, mô tả 1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ (dẫn theo tài liệu [13]). Năm 348 - 322 Trước công nguyên, Aristote người Hy Lạp đã có những ghi chép về cây cỏ của Hy Lạp. Sau đó năm 340 Theophrate với tác phẩm “Lịch sử vạn vật” đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của chúng. Tuy tác phẩm chỉ mới dừng lại ở mô tả các đặc điểm của cây cỏ, nhưng nó đã đặt nền tảng cho các khoa học nghiên cứu về thực vật sau này (dẫn theo tài liệu [8]).
Năm 60 - 20 Trước công nguyên, thầy thuốc Dioscorides người Hy Lạp đã mô tả 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh, ông cũng là người đặt nền móng cho y dược học Hy Lạp (dẫn theo tài liệu [4]). c 5 Năm 79 - 24 Trước công nguyên, nhà tự nhiên học Plinus người La Mã đã soạn thảo bộ sách “Vạn vật học” gồm 37 tập, giới thiệu gần 1000 loài thực vật có ích (dẫn theo tài liệu [4]). Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 1985 (dẫn theo tài liệu [28]), trong tổng số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng 20.000 loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau. Trong đó, Ấn Độ được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc.
Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Guidelines on good agricultural and collection practices for medicinal plants). Tài liệu đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể từ chọn cây thuốc, chọn vùng trồng trọt thích hợp, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch. Đây là một hướng dẫn và là thước đo chất lượng sản phẩm dược liệu khi trở thành sản phẩm hàng hóa trên Thế giới [28]. Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫn này để xây dựng khung quy định cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới (dẫn theo tài liệu [5], [10]).
Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh việc nghiên cứu các chế phẩm mới từ cây thuốc. Ở Mỹ, 25% các đơn thuốc được pha chế tại các cửa hàng dược gồm các chất chiết từ cây cỏ, 13% từ các loài vi sinh và 3% từ động vật với nhu cầu hàng tỷ USD/ năm (dẫn theo tài liệu [16]). Ở Trung Quốc, có 940 xí nghiệp và xưởng sản xuất thuốc từ cây cỏ với 6266 mặt hàng; doanh thu các thuốc từ cây cỏ chiếm 33,1% thị trường thuốc năm 1995; tổng giá trị xuất khẩu dược liệu và thuốc cổ truyền từ năm 1997 đạt 600 triệu USD [17], [19]. Hiện nay, Trung Quốc có chủ c 6 trương đầu tư mạnh cho công tác nghiên cứu dược liệu, đã tự túc được khoảng 90% nhu cầu thuốc trong nước, trong đó thuốc sản xuất từ nguồn gốc thực vật chiếm ưu thế [25], [26].
Tình hình nghiên cứu về chi Gynostemma Chi Gynostemma chủ yếu là các cây thảo, thân leo, nhẵn hoặc có lông mịn. Lá có cuống với phiến chân vịt gồm 3-5-7 lá chét, ít khi có 1 lá chét. Lá chét hình xoan. Các đốt thân có tua cuốn.
Cụm hoa đực dài, gồm nhiều hoa nhỏ; hoa hình sao, màu trắng hay lục nhạt; cuống hoa mang lá bắc ở gốc; đế hoa dẹt, có 5 lá đài nhỏ; hoa 5 cánh, hình mũi dùi hoặc hình xoan thuôn, nhọn ở đỉnh. Bộ nhị gồm 5 chỉ nhị dính thành cột; bao phấn đều, dính với nhau. Cụm hoa cái giống cụm hoa đực nhưng dài hơn; hoa cái có bầu 2-3 ô, hình cầu, mỗi ô có 2-3 noãn treo; đầu nhụy xẻ 3. Quả mọng hình cầu, không mở, chứa 2-3 hạt.
Hạt hình trứng, hơi dẹp [26]. Từ thân lá của các loài thuộc chi Gynostemma đã phân lập được một số lớp chất như: Tecpenoit, tecpenoit - glycosit và Flavonoit. Zhang, et al. (2006) [27] đã phân lập được 3 flavonoid là rutin, kaempferol và quercetin từ loài Gynostemma cardiospermum Cogniaux ex Oliver.
Một nghiên cứu của tác giả Jiang, W. (2006) tại Đại học Y Quảng Tây (Trung Quốc) [21] đã so sánh hàm lượng của flavonoid trong 6 loài Gynostemma thu hái tại Quảng Tây bằng phương pháp đo quang phổ tại bước sóng 510 nm, so sánh với chuẩn nội rutin cho kết quả hàm lượng flavonoid toàn phần trong loài Gynostemma guangxiense X. Qin là cao nhất. Nghiên cứu của tác giả Huang, S.
(2008) [20] đã sử dụng phương pháp xác định chlorophyll và dẫn chất trong Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino bằng HPLC-MS. Đã tách và xác định được trong Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino có 15 chlorophyll và dẫn chất: Pheophytina, pheophytin a', chlorophyll a, chlorophyll a', c 7 hydroxypheophytin a, hydroxypheophytin a', pheophytin b, pheophytin b', chlorophyll b, chlorophyll b', hydroxychlorophyll b, hydroxypheophytinb và hydroxypheophytin b'. Bằng phương pháp phân tích điện di mao quản đã phát hiện trong dịch chiết nước Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino có 1 loại hetero polysaccharid không tinh bột có thành phần chính là monosaccharid, galactose, arabinose, rhamnose, galacturonic acid, xylose, manosevà acid glucuronic [27]. Ngoài ra nhóm alcaloid được báo cáo là không có trong Gynostemma pentaphyllum (Thunb.
Tình hình nghiên cứu cây Giảo cổ lam 1. Nguồn gốc Trên thế giới, Giảo cổ lam được phát hiện ở độ cao 200-2.000m so với mặt nước biển, trong các khu rừng thưa và ẩm tại Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonexia, Triều Tiên và một số nước châu Á khác. Là loài cây thân leo, sinh trưởng quanh năm nhưng tốt nhất vào mừa xuân, cây có khả năng tái sinh từ chồi và hạt [27], [28]. Ở phương Đông, một số nơi đã sử dụng các loài trong họ Bầu bí để chữa bệnh, nhờ hoạt chất Curcubitacin có trong thân lá.
Một số minh chứng cho thấy Curcubitacin là hoạt chất chính có tác dụng ức chế khối u thận, khối u não và các khối u ác tính. Ở khu vực Thái Bình Dương, quả của một số loài trong họ Curcubitaceae được dùng làm lợi tiểu, hạ sốt, giảm viêm nhiễm, chống độc, trị bệnh vàng da, tiểu đường và sử dụng làm thuốc an thần [5]. Đặc điểm sinh thái Theo nghiên cứu của các tác giả như Yin, F. Zhang, et al.
(2006) tại Đại học Y Quảng Tây (Trung Quốc) [21] cho thấy, cây Giảo cổ lam là cây ưa ánh sáng tán xạ, sinh trưởng tốt nơi đất ẩm; thân bò lan trên mặt đất và thường leo bằng các tua cuốn, cây tái sinh tự nhiên chủ yếu từ chồi sau khi cắt. Cây giảo cổ lam có thể phát triển ở hầu hết các vùng c 8 khí hậu, nhưng tốt nhất là ở các vùng khí hậu mát, ẩm. Khu phân bố tự nhiên có nhiệt độ bình quân là 15,80C, nhiệt độ cao nhất là 31,10C, nhiệt độ thấp nhất là 4,30C. Tuy nhiên, cây có thể chịu được nhiệt độ cao nhất là 38,90C, thấp nhất là - 6,30C.
Cây Giảo cổ lam sinh trưởng, phát triển trên rất nhiều loại đất như đất xít, thoát nước, đất giữ ẩm tốt, giầu dinh dưỡng. Độ ẩm không khí thích hợp trung bình là 75%, hàm lượng nước trong đất 25-40%. Cây Giảo cổ lam là loài thực vật ưa sáng tán xạ, mọc dưới tán rừng nguyên sinh, thứ sinh. Tác dụng của cây Giảo cổ lam Với thành phần chính là Saponin và Flavonoid thì Giảo cổ lam có những tác dụng đối với sức khỏe như giúp làm giảm cholesterol trong máu, ngăn ngừa xơ vữa động mạch.
Một nghiên cứu gần đây của tác giả Rehman Gauhar và cộng sự (2012) (dẫn theo tài liệu [4]) đã khẳng định dịch chiết từ cây Giảo cổ lam có tác dụng hoạt hóa men AMPK, một men có vai trò quan trọng trong quá trình điều hòa chuyển hóa năng lượng của cơ thể, làm thúc đẩy quá trình oxy hóa chất béo và tăng cường chuyển hóa đường, đạm, mỡ trong cơ thể giúp cải thiện tình trạng béo phì. Một thử nghiệm trên chuột cho thấy khi dùng dịch chiết Giảo cổ lam với mức liều 150, 300 mg/kg cân nặng, sau 8 tuần điều trị thì trọng lượng cơ thể giảm đi 5,7% và 7,7% so với thời điểm ban đầu. Nghiên cứu của nhóm tác giả Sun, W. Sha, et al.
(1993) [24] cũng khẳng định tác dụng làm giảm cholesterol toàn phần trong máu, triglycerid, LDL (một loại cholesterol xấu trong máu, loại cholesterol này làm tăng nguy cơ xuất hiện các mảng xơ vữa động mạch và các bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ.) trên mô hình động vật thí nghiệm. Theo kết quả của nghiên cứu này thì khi sử dụng Giảo cổ lam làm giảm lượng triglycerid trong máu 85%, cholesterol toàn phần 44%, tác dụng này gần như tương đương với atorvastatin, là thuốc được ưu tiên lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân rối loạn mỡ máu hiện nay. Sở dĩ Giảo cổ lam làm hạ mỡ máu mạnh là do các chất c 9 saponin hàm lượng cao trong Giảo cổ lam đã “tóm lấy các hạt mỡ lơ lửng trong mạch máu” và kéo chúng vào trong tế bào để cơ thể chuyển hoá thành năng lượng. Chất saponin trong Giảo cổ lam có đặc tính “tẩy rửa” các chất béo mạnh và làm giảm độ nhớt của máu, do vậy thường xuyên uống Giảo cổ lam sẽ làm trơn láng thành mạch máu, bào mòn dần các mảng xơ vữa bám trong lòng mạch, giúp máu lýu thông dễ dàng hõn, tãng cýờng máu lên não.
Đây là lý do Giảo cổ lam giúp tỉnh táo, sảng khoái, giúp dễ ngủ và ngủ sâu giấc.