Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây dừa cạn 1. Nguồn gốc, phân loại Tên gọi: Dừa cạn có tên khoa học là Catharanthus roseus (L. Ngoài ra còn có các tên khác: Bông dừa, Hải đằng, Trường xuân hoa, Phjắc pót đông (Tày).
Dừa cạn có tên nước ngoài là: Madagasca periwinkle, red periwinkle, pink periwinkle, rosy-flower Indian periwinkle, cape periwinkle, old maid (Anh); Pervenche malgache, Pervenche-tropicale (Pháp) [8], [26]. Phân loại: Dừa cạn thuộc giới thực vật (Plantae). Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta). Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida).
Bộ Ngọc Lan (Apocynales). Họ Trúc đào (Apocynaceae). Chi Catharanthus thuộc họ trúc đào (Apocynaceae), gồm 8 loài, hầu hết là cây thân thảo sống lâu năm, trong đó chỉ có 1 loài có nguồn gốc Ấn Độ còn lại có nguồn gốc Madagascar. Bộ nhiễm sắc thể của tất cả các loài là 2n = 16 [3], [12].
(1) Catharanthus coriaceus Markgr. (2) Catharanthus lanceus (Bojer ex A. (4) Catharanthus ovalis Markgr. Dừa cạn (Catharanthus roseus (L.
Don) Madagascar, có nguồn gốc Madagascar đã di nhập sang khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Đặc điểm hình thái của cây dừa cạn 3 Dừa cạn là cây thân thảo sống lâu năm, cao 40 - 60cm, phân nhiều cành, cây có bộ rễ phát triển, thân ở phía gốc hóa gỗ. Lá mọc đối, thuôn dài, đầu lá hơi nhọn, cuống lá hẹp. Kích thước lá dài 4 -6cm, rộng 2 - 3cm, hai mặt lá nhẵn, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt.
Hoa có màu trắng hoặc hồng tím, có mùi thơm. Hoa mọc riêng lẻ ở kẽ lá gần ngọn. Hoa có 3 loại: hoa có màu trắng, màu tím hồng, và loại hoa phía ngoài cánh hoa màu trắng phần tâm màu đỏ. Ống tràng dài 2,5 - 3cm, tràng hoa có đường kính 2cm - 4cm có 5 thùy tương tự như cánh hoa.
Quả là một cặp quả đại dài 2 - 4 cm, rộng 3mm, hơi ngả sang hai bên, trên vỏ có vạch dọc, đầu quả hơi tù chứa 12 - 20 hạt nhỏ màu nâu nhạt, hình trứng trên mặt quả có các hạt nổi thành đường chạy dọc. Mùa hoa, quả gần như quanh năm [8], [26]. Cây dừa cạn Dừa cạn (Catharanthus roseus (L. Don) là nguồn giàu alkaloid thuộc chủng loại alkaloid terpenoid indole được phát hiện từ 3 giống cây khác nhau: (i) Catharanthus roseus var.
roseus với hoa màu tím hồng; (ii) Catharanthus roseus var. ocellatus với hoa màu trắng; (iii) Catharanthus roseus var. albus với hoa màu trắng nhụy đỏ. Hoa của ba giống Catharanthus roseus (A: Catharanthus roseus var.
roseus; B: Catharanthus roseus var. ocellatus C: Catharanthus roseus var. Phân bố sinh thái Dừa cạn mọc hoang dại và được trồng ở nhiều nước trên thế giới như Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonexya, Braxin, Châu phi, Châu Úc… Tại Châu Âu và Châu Mỹ những nơi nóng dừa cạn được trồng quanh năm, những nơi lạnh cây được trồng theo mùa [8]. Ở Việt Nam, cây dừa cạn mọc tự nhiên nhiều ở vùng bãi cát ven biển từ Hải Phòng đến Kiên Giang.
Nơi tập trung nhiều nhất thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Ngoài ra, dừa cạn còn có ở Côn Đảo và Phú Quốc. Ở những vùng ven biển dừa cạn mọc thuần trên các bãi cát dưới rừng phi lao, trảng cây bụi thấp, có khả năng chịu đựng điều kiện đất đai khô cằn của vùng cát ven biển. Dừa cạn còn được trồng khắp nơi trong nước để làm cảnh và làm thuốc [8].
Kỹ thuật trồng dừa cạn Dừa cạn là loại cây ưa sáng, ưa ẩm, có khả năng chịu được hạn. Trong điều kiện trồng trọt, khi được cung cấp các điều kiện cần thiết, cây sinh trưởng phát triển mạnh, khối lượng tươi thu được có thể cao gấp đôi cây mọc từ tự nhiên. 5 Trong tự nhiên, hạt nảy mầm đạt khoảng 40%, nếu được xử lí có thể tăng lên 90%. Cây trồng từ hạt ra hoa sau 4 - 5 tháng.
Trong thời kì sinh trưởng, nếu bị cắt cây tái sinh chồi khỏe. Nguồn cây dừa cạn mọc tự nhiên ở Việt Nam tương đối dồi dào. Trước năm 1975, miền Bắc đã từng xuất khẩu sang Đông Âu 1 - 3 tấn/năm. Những năm gần đây, lượng xuất khẩu sang Pháp (khoảng trên 10 tấn/năm) thường xuyên hơn, nhưng chủ yếu từ cây trồng tại Phú Yên [8].
Vào năm 1970, Viện Dược Liệu tiến hành nghiên cứu kỹ thuật trồng dừa cạn trên quy mô sản xuất lớn. Cây được nhân giống bằng hạt, mỗi hecta cần gieo 500 - 700gr hạt trong vườn ươm. Thời vụ gieo hạt vào tháng 9, 10 hoặc tháng 1, 2. Ngâm hạt 3 - 4 giờ, vớt ra để ráo rồi gieo lên luống của vườn ươm đã được chuẩn bị kỹ, sau đó phủ rơm rồi tưới nước.
Sau khoảng một tuần, hạt nảy mầm, cần tháo bỏ rơm rạ. Khi cây có 3 - 4 lá thật (khoảng 45 ngày sau khi gieo) đánh đi trồng. Có thể gieo thẳng nhưng cách này tốn công chăm sóc [11]. Dừa cạn ưa đất pha cát, đất phù sa, chịu hạn, kém chịu úng.
Đất cần làm kỹ, lên luống 20cm, mặt luống rộng 50 - 60cm, dùng 10-15 tấn phân chuồng (đã hoại mục) và 120-150kg super lân để bón lót. Trồng với khoảng cách 30x30cm, sau khi trồng cần tưới ngay để cây mau bén rễ. Tưới thúc cho mỗi hecta 100-200kg urê, tưới 2 lần, cách nhau 1 tháng. Mặc dù cây chịu được hạn nhưng phải giữ đủ ẩm thường xuyên [11].
Sau khi trồng 3-4 tháng cây cho thu hoạch, cành mang lá 10-15cm được cắt về phơi sấy khô. Ở đất thoát nước và chăm bón tốt có thể thu hoạch nhiều lứa, trung bình 1 hecta thu được 1-1,2 tấn cây khô mỗi lứa [11]. Dừa cạn là một giống cây có khả năng chịu hạn cao và có thời gian canh tác ngắn. Các kết quả thử nghiệm của Trung tâm Nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Đà Lạt cho thấy, cây dừa cạn có thể phát triển tốt trên đất cát khô hạn ven biển các tỉnh miền Trung, chỉ sau 5 tháng cây đã trưởng thành và tích lũy đủ hàm lượng alkaloid đạt tiêu chuẩn xuất khẩu [11].
Ứng dụng của cây dừa cạn trong y học 1. Thành phần alkaloid trong cây dừa cạn Alkaloid là những chất hữu cơ có chứa dị vòng nitơ, có tính base, thường gặp trong nhiều loại thực vật và đôi khi còn tìm thấy trong một vài loài động vật. Trong cây dừa cạn, có trên 70 loại alkaloid, trong đó 2 alkaloid là vinblastine và vincristine là hai hợp chất quan trọng nhất. Alkaloid có trong tất cả các bộ phận của cây, nhiều nhất trong lá và rễ.
Dừa cạn có tỷ lệ alkaloid toàn phần là 0,1- 0,2%. Rễ chính chứa hoạt chất 0,7 - 2,4%; thân 0,46%; lá: 0,37 - 1,15%; rễ phụ: 0,9 - 3,7%; hoa: 0,14 - 0,84%; vỏ quả 1,14; hạt 0,18%. Các chất chủ yếu là: vinblastine, vincristine, tetrahydroalstonine, prinine, vindoline, catharanthine, vindolinine, ajmalicine [24], [26]. Căn cứ vào cấu tạo hóa học, alkaloid trong cây dừa cạn được chia làm ba nhóm chính [26]: Nhóm alkaloid nhân indol: Perivine, peviridine, perosine, catharanthine, cavicine, ajmalicine.
Nhóm alkaloid nhân indolin: vindoline, ajmaline, lochnericine, lochneridine, lochrovine. Nhóm alkaloid có 2 vòng indol hoặc một vòng indol và một vòng indolin như leurosine, leubcosidine. đặc biệt các alkaloid có tác dụng chữa bệnh ung thư nhưng có hàm lượng rất thấp như: Vinblastine (vincaleucoblastine) 0,005 - 0,015% trong lá, vincristine (leucocristine) 0,003 - 0,005% trong lá. Tác dụng dược lý của alkaloid chứa trong dừa cạn Năm 1952, y học đã phát hiện ra dược tính của dừa cạn.
Đến năm 1958 bác sĩ Clark Noble Canada đã nghiên cứu và chiết xuất được alkaloid vinblastine. Sau đó vài năm người ta cũng tìm ra được vincristine từ lá dừa cạn [8]. Đây là những chất có tác dụng điều trị bệnh ung thư khi chuyển về dạng muối sunfat. Alkaloid vinblastine và vincristine, là những chất ức chế sự phân bào.
Các alkaloid này liên kết đặc hiệu với tubulin, phong bế sự tạo thành các 7 vi ống và gây ngừng phân chia tế bào. Ở nồng độ cao vinblastine và vincristine diệt được tế bào, còn ở nồng độ thấp làm ngừng phân chia tế bào. Trên thị trường, thuốc Vinblastine (có tên Velban) là thành phẩm độc bảng A, thường đóng ống 5-10mg chế phẩm khô kèm theo 1 ống dung môi. Riêng vinblastine ít ảnh hưởng đến hồng cầu và tiểu cầu [28].
Ngoài ra, dừa cạn có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng kháng ung thư, trấn tĩnh, an thần, hạ huyết áp, thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, tiêu thũng. Dừa cạn được nghiên cứu làm thuốc kìm hãm sự phát triển tế bào và được chỉ định trong điều trị bệnh Hodgkin (một loại ung thư hệ bạch huyết), bệnh bạch cầu lymphô cấp và một số loại ung thư khác. Trong dân gian, dùng dừa cạn trị cao huyết áp, trị bệnh đái đường, điều kinh, chữa tiêu hóa kém và chữa lỵ, thông tiểu tiện, chữa bệnh đi tiểu đỏ và ít. Có người dùng dừa cạn trị ung thư máu, ung thư phổi, ngăn cản sự phát triển của thai trên động vật mang thai và kháng một số chủng nấm gây bệnh [3].
Một số bài thuốc dân gian từ cây dừa cạn Theo kinh nghiệm sử dụng trong y học dân tộc của một số nước trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc. và theo y học dân tộc Việt Nam, rễ dừa cạn có tác dụng tẩy giun, chữa sốt. Thân và lá có tác dụng làm săn da, lọc máu, dùng chữa một số bệnh ngoài da và nhất là chữa đái đường [8]. Dừa cạn còn có tác dụng chữa nhiều loại bệnh [25]: Bệnh máu trắng: Lấy thân và lá cây dừa cạn sắc uống khoảng 15g khô/ngày.
Tăng huyết áp: Lấy 20g thân lá dừa cạn khô sao vàng và 20g lá dâu, sắc lấy nước, chia uống từ 2 - 3 lần mỗi ngày. Cách khác, lấy 6g hoa dừa cạn, 10g nụ hoa hoè (hoặc 10g cúc hoa), hãm với nước sôi trong bình kín khoảng 20 phút. Uống thay nước trà mỗi ngày. Ung thư máu, viêm đại tràng: Lấy từ 15 - 20g thân lá dừa cạn khô sao vàng, sắc, chia từ 2 - 3 lần uống trong ngày.
8 Mất ngủ: Lấy 20g thân lá dừa cạn khô sao vàng, 12g lá vông nem, 12g hạt muồng sao đen, sắc uống trước khi đi ngủ. Rong kinh: Lấy từ 20 - 30g dừa cạn sao vàng (toàn cây có cả hoa và rễ), sắc lấy nước, uống liên tục từ 3 - 5 ngày. Chữa bỏng nước sôi: Lá dừa cạn tươi lượng vừa đủ, giã nát, nhuyễn với chút gạo, đắp lên tổn thương bỏng. Điều trị Zôna thần kinh: Dừa cạn (sao vàng hạ thổ) 16g, thổ linh 16g, bạch linh 10g, kinh giới 12g, chi tử 10g, nam tục đoạn 16g, cam thảo đất 16g, hạ khô thảo 16g.
Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Thuốc đắp: lá dừa cạn, lá cây hòe. Hai thứ lượng bằng nhau, giã nhỏ đắp lên các tổn thương, băng lại. Tác dụng: làm giảm đau nhức.