Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về cây hoa chuông 1.1 Nguồn gốc Hoa chuông được các nhà nghiên cứu phát hiện đầu tiên ở Brazil từ năm 1785. Năm 1825, loài này được đặt tên là Sinningia speciosa bởi nhà thực vật học người Duc Wilhelm Sinning. Hầu hết các loài của Sinningia sống chủ yếu ở khu vực rừng nhiệt đới ở Brazil (Nam Mỹ) (David, 2012).2 Phan loại Hoa chuông có tên khoa học là Sinningia speciosa hay Gloxinia speciosa. Ở Việt Nam có nhiều tên gọi khác nhau như hoa tình yêu, tử la lan, hoa thánh, mõm chó biển, đại nhâm hồng, hồng xiêm (Lã Thị Thu Hằng 2015).
Thuộc giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Họ: Gesmeriaceae Chi: Sinningia Loài: Sinningia Speciosa Hoa chuông rat da dang về màu sắc hoa và hình dang hoa, kích thước bộ lá. Chi Sinningia có khoảng 40-50 loài và vô số các loài lai. Hiện nay Sinningia speciosa được trồng phổ biến trên thế giới như: Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Nhật, Thái Lan, Brazil, Ấn Độ, Philippin. Ở điều kiện khí hậu lạnh, hoa chuông được trồng như là cây một năm và chúng sẽ ra hoa vào mùa hè, vùng có điều kiện khí hậu ấm hơn thì chúng có thé ra hoa quanh năm (Kessler, 1999) 1.2 Đặc điểm thực vật học Theo Lã Thị Thu Hằng (2015), đặc điểm thực vật học cây hoa chuông như sau: 1.1 Rễ Là cơ quan dinh đưỡng dưới mặt đất có nhiệm vụ hút nước và dinh dưỡng cho cây, giữ cây không bị đỗ ngã.
Rễ hoa chuông thuộc loại rễ chùm phần lớn phát triển theo chiều ngang, ở mặt dat từ 10 - 20 cm. Kích thước các rễ tương đối đồng đều và số lượng nhiều nên kha năng hút nước và dinh dưỡng của cây rất mạnh. Rễ có thé phát sinh từ mam rễ của hạt, hoặc từ than, củ, cuống lá và những cơ quan sinh dưỡng tiếp xúc trực tiếp với đất.2 Thân Hoa chuông thuộc loại thân thảo, có nhiều đốt giòn, dé gãy. Thân dang đứng hoặc bị.
Kích thước thân to hay nhỏ, cao hay thấp, cứng hay mềm tùy thuộc vào giống và thời vụ trồng. Trên thân có các mắt ngủ tiềm sinh ở giữa cuống lá và thân. Thân có khả năng tái sinh nên được sử dụng dé nhân giống vô tính.3 Lá Lá đơn mọc đối, không có lá kèm. Phiến lá mềm mỏng, có thể to hay nhỏ, hình thoi hoặc oval, lá có mau sắc khác nhau (xanh đậm, xannh nhạt, xanh phot hồng.) tùy thuộc vào từng loại giống.
Cây có ít lá, mặt trên lá bao phủ một lớp lông tơ mượt như nhung, mặt dưới lá nhẫn, gân lá hình mạng, trung bình một chu kỳ sinh trưởng của cây có từ 5-18 lá trên thân chính.4 Hoa Hoa có hai dạng chính là hoa lưỡng tính và hoa đơn tính. Hoa có hình chuông khá to, cánh mướt như nhung và viền cánh hoa có gợn sóng, nhiều hoa nở cùng một lúc, mỗi đợt hoa kéo dài khoảng 15-20 ngày; màu sắc hoa rất đa dạng, hầu như có tất cả các màu sắc trong tự nhiên. Một bông có thể có một màu hoặc nhiều màu pha trộn. Hoa có hai nhóm là hoa đơn và hoa kép, hoa kép có nhiều vịnh cánh trên bông.
Đường kính bông hoa tùy thuộc vào giống và thời vụ trồng, trung bình khoảng 2-7 cm. Hoa mọc từ nách lá, hoa mọc tập trung. Ở điều kiện khí hậu lạnh, cây hoa chuông được canh tác như la một một năm và sẽ cho ra hoa vào mùa hè. Vùng có điều kiện ấm hơn thì chúng có thê ra hoa quanh năm.5 Quả và hạt Quả có dạng quả nang (khi chin sẽ nứt ra theo 3 đường nứt dọc dé giải phóng các hạt).
Hạt hoa chuông thuộc loại có kích thước rất nhỏ, với trọng lượng 12. Kha năng sinh trưởng của cây hoa chuông vô hạn: khi lá rụng hết, cây chuyển sang giai đoạn ngủ nghỉ bắt buộc. Người ta có thể nhân giống hao chuông bằng nhiều phương pháp khác nhau: bằng hạt, giâm lá, củ thân và nuôi cấy mô tế bảo.3 Điều kiện ngoại cảnh Theo Lã Thị Thu Hằng (2015), điều kiện ngoại cảnh hợp lí cho cây hoa chuông như sau: 1.1 Nhiệt độ Hoa chuông có nguồn gốc nhiệt đới nên đa số các giống hoa chuông được trồng hiện nay đều ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thích hợp dao động từ 18 — 24 °C. Trong giai đoạn ra hoa, nhiệt độ 16 — 18 °C sẽ kéo dai thời gian ra hoa.
Nhiệt độ nhỏ hon 10 °C cây ngừng sinh trưởng, gây ton thương đến lá và hoa, khi nhiệt độ lớn hơn 27 °C cây sinh trưởng nhanh. Yêu cầu điều kiện nhiệt độ này, vụ Đông Xuân ở khu vực Tp. Hồ Chí Minh cũng có thê đáp ứng cho cây hoa chuông sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng hoa cao.2 Ánh sáng Ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phân hóa mầm hoa và sự nở hoa của cây hoa chuông. Hoa chuông ưa ánh sáng tán xạ.
Ánh sáng trực tiếp sẽ làm cháy lá, trong thời kỳ ngủ nghỉ cây không cần ánh sáng. Quang kỳ thích hợp nhất dé hoa chuông phát triển là khoảng 12 - 16 giờ chiếu sáng/ngày. Cường độ ánh sáng thấp (270 lux) được chấp nhận với nhiệt độ mát 18 °C, mức ánh sáng từ 500 — 1100 lux hoặc cao hơn được khuyến cáo dé cây phát triển số lượng nụ và hoa tốt hơn. Vì vậy, trong sản xuất chúng ta có thé điều chỉnh thời gian và cường độ chiếu sáng cho cây hoa chuông bang cách dùng lưới den che nắng, thắp đèn dé điều chỉnh sinh truởng phát triển của cây, nhằm dat hiệu quả kinh tế cao nhất.3 Đất Hoa chuông trồng chậu, có bộ rễ ăn nông.
Vì vậy nên yêu cầu đất trồng phải cao ráo, thoát nước tốt, tơi xốp và nhiều mun, thích hợp với đất có pH từ 5,§ — 7,5.4 Âm độ và nước tưới Hoa chuông là cây trồng cạn nên không chịu được ting. Tuy nhiên, do cây có sinh khối lớn, bộ lá to nên cần nhiều nước, chịu hạn kém. Cây hoa chuông sinh trưởng, phát triển thuận lợi nhất trong điều kiện 4m độ đất từ 65 - 80%, độ âm không khí từ 60 - 75%. Trong thời kỳ nở hoa nếu độ 4m quá cao gây thối hoa và sâu bệnh phát triển mạnh làm giảm chất lượng hoa và độ bền của hoa.
Cây bi ung trong giai đoạn ra hoa thì các nim hoa bị rụng và có thê gây chết. Khi cây ở giai đoạn ngủ nghỉ, giảm lượng nước tưới cho cây. Bảo quản củ trong giai đoạn ngủ nghỉ ở điều kiện mát mẻ nhưng phải khô ráo. Khi trồng nên sử dụng chậu thoáng và thoát nước tốt.
Tưới nước mỗi ngày phụ thuộc vào cường độ ánh sáng và nhiệt độ. Nên tưới nước vào lúc sáng sớm, tưới nước xung quanh gốc cây, không tưới quá đẫm vi cây dé bị thối và nhiễm bệnh. Thiếu nước cây sinh trưởng kém, rút ngắn chu kỳ sinh trưởng.4 Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa chuông trong chậu Theo Trung tâm Công nghệ Sinh học Thành phố Hồ Chí Minh (2020) kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa chuông như sau: 1.1 Thời vụ Cây thường ra hoa vào cuôi mùa xuân đên đâu mùa thu, có giông cho ra hoa quanh năm.2 Chuẩn bị trồng Sử dụng giống tốt in vitro, chọn cây cao 3-4 cm, thân mập, khỏe, có 4-5 lá thật, cây đã hình thành củ và có nhiều rễ tơ. Sau khi chuyền ra vườn ươm từ 15- 20 ngày thì có thé đem ra trồng chậu.
Cây con đạt tiêu chuẩn từ 4 - 5 cm, đường kính tán 4 - 6 em, có từ 6 — 8 lá thật.3 Kỹ thuật nhân giống Hoa chuông có thé nhân giống bằng hạt hoặc nhân giống in vitro trong phòng thí nghiệm.4 Kỹ thuật chăm sóc Theo Nguyên Khuê (2014) thì kỹ thuật chăm sóc hoa chuông như sau: Giai đoạn cây con: Trồng cấy cấy mô vào các ly nhỏ đường kính 5 cm với giá thể mụn đừa, cát (3:1) trong điều kiện thoáng mát, từ 15- 20 ngày sau chuyền ra trồng chậu. Giai đoạn trồng chậu: Giá thé: Cây con hoa chuông chuyên vào chậu có đường kính 14 cm , cao 10 cm với giá thể trồng có mụn dừa: cát (3:1), lượng phân bón lót cho 100 chậu: Greenfield 2kg Vôi nông nghiệp 300g Sulfat sắt 250g (pha 8 lít nước tưới) pH thích hợp cho hoa: 5,5 - 5,8 Giai đoạn hình thành nụ và hoa: Tiếp tục duy trì mức dinh dưỡng như giai đoạn trước đó, đồng thời bổ sung dinh dưỡng bằng phân bón gốc NPK 20-20-15 với lượng phân 1g/ cây/ lần, bón 1 lần. Chế độ chăm sóc: - Chế độ nước tưới, ánh sáng và nhiệt độ: Hoa phát triển tốt trong điều kiện thoáng mát (khoảng 50% ánh sáng). Tưới nước vào sáng sớm, không tưới vào buổi chiều vì cây dé nhiễm bệnh.
Có thể tưới bằng nhiều cách như phun sương, tưới nhỏ giọt,. nhưng phải dam bao vừa đủ độ 4m làm mát cho cây. Khi hoa đã nở chỉ nên tưới gốc, không tưới vào lá và hoa, không tưới quá đẫm vì sẽ dễ gây thối. Tuoi nước 3- 4 lần/ tuần, mỗi lần tưới khoảng 100m1/ chậu (độ 4m 60-70%).
- Phân bón: Cây dưới một tháng tuổi cần bé sung các phân vi lượng như: Polyfeed (19-19-19), Growmore (30-10-10),. Cây trên một tháng tuổi, ngoài việc bồ sung vi lượng cần phải bé sung thêm các loại chất kích thích tăng trưởng như: Atonik 1,8 DD, Agrostim TM USA. - Ngắt lá, tia nụ: Muốn hoa nở tập trung cần tỉa bỏ 2 nụ đầu tiên (khi nụ đã chuyền màu). Tỉa bé những lá, hoa đã già héo dé tránh làm cây bị bệnh, Các hoa tàn thì tách bỏ ra khỏi đài hoa.
Sau khi tất cả hoa đã tàn, nên cắt đát gốc, các chồi mới sẽ mọc lên củ dưới đất. Tiếp tục bón phân và chăm sóc theo quy trình, cây sẽ ra hoa mới. - Phong trừ sâu bệnh: Côn trùng: Hoa chuông thường bị một số loại côn trùng gây hại như: nhện đỏ, các loại sâu ăn lá, rệp sáp. nên cần phun ngừa các loại thuốc như supracide 40 EC, Commite 73 EC, Vertimec 1,8 EC, Bitadin.
Bệnh hai: Các loại bệnh thường gặp trên cây hao chuông là thối gốc và chết héo. Các loại bệnh này do độ âm quá cao, nới trồng không thông thoáng, nên tưới nước vừa phải và tưới vào buéi sáng, tránh tưới buổi chiều dé làm hư lá. Bệnh có thé khống chế được bằng các loại thuốc Mexyl - MZ72 WP, Tosin M 50 WP, Aliette 80 WP.5 Giá thé trồng cây hoa chuông Giá thể là từ dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng, các loại giá thé khác nhau có ưu nhược điểm khác nhau và tùy theo mục đích trồng, loại cây trồng mà chọn các loại giá thể thích hợp.