Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về cây đậu nành 1.1 Nguồn gốc, lịch sử phát triển và phân bố địa lý cây đậu nành Đậu nành có xuất xứ từ Trung Quốc, Người Trung Quốc đã biết sử dụng nó cả nghìn năm trước công nguyên, lúc đó cây đậu nành con mọc hoang dai ở dam lay ven sông, có trái nhỏ, hạt nhỏ chưa thé ding làm lương thực cho người và gia súc được. Cây đậu nành được du nhập vào Triều Tiên, qua Nhật Bản, Malaysia và các nước Đông Dương (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2003). Tại Việt Nam, đậu nành được biết đến từ thời Hai Bà Trưng (Trần Văn Lợt, 2010).
Trên thế giới có hơn 100 nước trồng đậu nành, phân bố ở khắp các châu lục nhưng tập trung chủ yếu ở Châu Mỹ và Châu Á (Phạm Văn Thiều, 2002). Đậu nành phân bồ rộng, trải dài từ 48 vĩ độ Bắc đến 30 vĩ độ Nam.2 Đặc tính thực vật học của cây đậu nành 2.1 Rễ Cây đậu nành có rễ là loại rễ cọc, gồm rễ cái và các rễ bên. Khi hạt nảy mầm phôi của hạt phát triển thành rễ cái. Rễ cái có thé ăn sâu 1 m nhưng thường tập trung 6 tang mặt 30 - 40 cm.
Ré lan rộng ra các phía xung quanh từ 20 — 40 em. Ré đậu nành thường phân nhánh thành rễ cấp 1 và rễ cấp 2 sau 5 — 6 tuần sau gieo (Trần Văn Lợt, 2010).2 Than, cành, lá Cây đậu nành có thân hình tròn, mọc thẳng, được cấu tạo bởi nhiều đốt nối liền nhau. Thân cây đậu nành có nhiều lông và ít phân cành. Mỗi cây có thé có nhiều dot, chiêu dài các đôt tùy thuộc vào môi giông, mật độ, thời vu, phân bón.
Cành mọc từ các đốt trên thân, mọc ở đốt đầu tiên của thân chính mang hai lá mam, đốt thứ hai lại mang hai lá đơn mọc đối nhau, ké từ đốt thứ ba trở đi thì mỗi đốt mang một lá kép. Lá mầm là lá tử điệp, thành phần dinh dưỡng của lá mầm chứa 40% N và 20% dầu có khả năng nuôi cây con. Lá có nhiều hình dạng khác nhau: dài, dẹp, bầu dục, hình tròn, hình trứng, mũi mac. Lá đơn mọc đối, lá to và có màu xanh.
Lá kép gồm ba lá chét. Các lá kép mọc đối nhau ở hai bên thân chính.3 Hoa Hoa đậu nành thuộc hoa cánh bướm, thường có màu trắng hoặc tím tùy vào giống. Hoa rất nhỏ, mọc ở nách lá, đầu ngọn thân, cành và thường mọc thành chùm có thé lên đến 25 — 30 hoa/chùm. Hoa thường ở 2 ngày, sau 4 — 5 ngày sẽ hình thành trái non (Trần Văn Lợt, 2010).4 Quả Quả đậu nành có nhiêu lông bao phủ, khi còn non vỏ quả có mau xanh khi già chín vỏ quả chuyển sang màu vàng hoặc nâu.
Mỗi quả đậu nành có từ 1 — 4 hạt nhưng thường có 2 - 3 hạt (Nguyễn Thi Thúy Liễu, 2022).5 Hạt Hạt đậu nành có nhiều hình dạng khác nhau như: hình tròn, bầu dục, tròn dài, tròn dẹp. Vỏ hạt thường có màu vàng đậm, vàng nhạt, vàng xanh, nâu. Đây chính là đặc điểm để phân biệt các giống khác nhau (Trần Văn Lợt, 2010).3 Yêu cầu sinh thái của cây đậu nành Nhiệt độ: Theo Phạm Văn Thiều (2002), cây đậu nành có nguồn gốc ôn đới nhưng không phải là cây chịu rét. Tông tích ôn của nó biến động trong khoảng 1700_— 2700°C.
Đậu nành có thé sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ không khí từ 27 —42°C. Ánh Sáng: Ánh sáng ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng chủ yếu qua quang hợp và quang tạo hình (Trần Văn Điền, 2007). Yêu cầu số giờ nắng trung bình cho các thời kỳ sinh trưởng của cây đậu nành như sau: Từ 4,0 đến 5,5 gid/ngay Lượng mưa va 4m độ: Trong thời kỳ sinh trưởng của cây đậu nành cần lượng mưa tối thiểu là 400 mm, tốtnhất là 700 mm. Có 2 thời kỳ cần nước nhất là thời kỳ nảy mầm và thời kỳ ra hoa kết trái.
Dat: Yêu cầu về đất của cây đậu nành không khắt khe. Các loại đất phù sa, cát pha, đất thịt, đất bãi, đất đồi núi, nương rẫy đều có thể trồng đậu nành, đất phải thoát nước tốt vì đậu nành có vi khuẩn cố định đạm sống cộng sinh. Độ pH thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây đậu nành là từ 5,2 — 6,5.4 Yêu cầu về dinh dưỡng Dam: Cây có khả năng thông qua vi khuan cộng sinh ở rễ có định được N từ không khí. Qua đó, nó có thể đáp ứng 60 — 70% lượng đạm cây cần.
Cho nên đậu nành không có nhu cầu cao đối với bón đạm. Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá nhạt , ra hoa ít, hoa quả non bị rụng. Thừa đạm, cành lá phát triển rườm rà, kéo dài thời gian sinh trưởng, ra hoa chậm, quả to song hạt không mây hoặc lép nhiều. Tùy theo giống, đất đai, thời vụ và phương pháp gieo trồng, bình quân 1 ha đậu nành cần bón thêm 50-80 kg phân đạm ure (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007).
Lân: Lân là yếu tố dinh dưỡng cần cung cấp nhiều hơn đạm. Lân có tác dụng xúc tiến sự hình thành phát triển của bộ rễ, hình thành nốt san và cac cơ quan sinh sản: hoa, quả, hạt, giảm rụng nụ hoa, tăng tỷ lệ hạt chắc. Thiếu lân cây nhỏ, sinh trưởng chậm, lá hẹp, dau lá nhọn và cong lên, có màu xanh tối, mặt lá có cham nâu. Tùy theo giống, đất đai, thời vụ và phương thức gieo trồng, bình quân 1 ha đậu nành cần bón thêm từ 250 — 300 kg phân lân supe (Ngô Thế Dân và cs, 1999).
Kali: Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đồ ngã, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bắt lợi (chịu úng, chịu hạn, chịu rét). Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây. Cây cần kali trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển nhưng cần nhất thời kỳ ra hoa. Lượng kali bón cho đậu nành thích hợp là 40 kg K2O (Ngô Thế Dân và cv, 1999).
Canxi: Trên nên dat chua, vôi là yêu tố quan trọng giúp cho việc sản xuất đậu nành được thành công. Bón vôi giúp giảm nồng độ của các chất đọc chăng hạn như: AI, Mn., cung cấp dinh dưỡng cho cây: Ca, Mg, Mo., cải thiện và tăng cường sự hình thành nốt san và có định đạm. Ở đất chua bón amoni sunphat và KCI mà không bón vôi nốt san kém phát triển. Nong độ của Ca trong dung dich 0,05 mg/I là phù hợp cho rễ sinh trưởng ở đất có pH= 5,6 (Ngô Thế Dân và cv, 1999).
Các nguyên tổ vi lượng: là các nguyên tô cây cần không lớn, nhưng không thé thiếu đối với đậu nành. Nguyên tố vi lượng cần thiết cho đậu nành: Zn, Mg, Cu, Bo, Mo. Mà quan trọng là Molipden, là chất rắn cần thiết cho sự cộng sinh của vi khuẩn nốt san. Một số nước Trung Quốc, Nhật, Đài Loan, Châu Âu,và Mỹ đã công bố năng suất đậu nành tăng khi bón thêm Mo.
Lượng Mo cần dé xử lý hạt là 17 g/ha, nếu bón vào dat thì cần 800 g/ha (Ngô Thế Dân và cv, 1999).2 Tình hình sản xuất đậu nành trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất đậu nành trên thế giới Cây đậu nành được phân bố từ vùng ôn đới tới vùng nhiệt đới, từ độ cao thấp hơn mặt nước biển đến độ cao gần 200 m và được phân bồ rộng rãi từ 55° vĩ độ Bắc đến 55° vĩ độ Nam. Đậu nành là cây trồng lấy hạt, cây có dau quan trọng bậc nhất trên thế giới chiếm khoảng 50% sản lượng cây lấy dầu trên thế giới. Do khả năng thích ứng rộng nên nó đã được trồng khắp năm châu lục, nhưng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ trên 70%, tiếp đến là châu Á ( Ngô Thế Dân và cv, 1999). Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy diện tích và sản lượng đậu nành trên toàn thế giới đang có xu hướng tăng dần.
Diện tích tăng từ 111,11 triệu ha (2013) lên 129,52 triệu ha (2021) và sản lượng tang nhanh từ 277,67 triệu tấn (2013) lên 371,69 triệu tan (2021). Năm 2021 có diện tích trồng (129,52 triệu ha), năng suất (2,87 tan/ha) và sản lượng (371,69 triệu tấn) cao nhất trong 10 năm qua. Năm 2021 châu Mỹ có diện tích trồng khoảng 76,30% và sản lượng chiếm 87,20% thế giới trong đó Brazil, Mỹ và Argentina là các nước có diện tích và sản lượng trồng đậu nành đứng hàng đầu thế giới. Khu vực châu Á, trồng đứng thứ 2 về sản lượng và diện tích trồng.2 Tình hình sản xuất đậu nành ở Việt Nam Cây đậu nành đã được du nhập vào nước ta từ lâu đời.
Từ thế ky XVI, đậu nành đã được trồng ở khu vực Bac Bộ. Đến nay cây đậu nành giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đời sông kinh tế - xã hội ở nước ta. Theo số liệu thống kê của cục 2020, đậu nành đang được trồng tại 25 tỉnh thành Việt Nam. Diện tích các tỉnh phía Bắc là 65% và miền Nam là 35%.
Các tỉnh thành có diện tích trồng đậu nành lớn nhất của Việt Nam là Hà Giang, Hà Nội, Thanh Hóa, Đăk Nông. Sản lượng đậu nành đáp ứng khoảng 10% nhu cầu tiêu thụ Bang 1.1 Tình hình sản xuất đậu nành trên thé giới từ năm 2012 — 2023 trên thé giới _ Hiệu tích Năng suất Bãi lượng (triệu ha) (tan/ha) (triéu tan) 2013 111,11 2,49 277,67 2014 117,75 2,60 301,30 2015 120,90 2,67 323,31 2016 121,64 2,76 335,91 2017 123,89 2,85 352,64 2018 124,92 2,79 348,71 2019 120,50 2,77 333,67 2020 126,95 2,78 353,46 2021 129,52 2,87 371,69 (Nguon: FAOSTAT 2023 ) Tuy nhiên, đậu nành ở nước ta chủ yếu là sử dụng làm thực phẩm mang tính tự cung tự cấp. Trong những năm gần đây, cây đậu nành phát triển không ổn định. Từ những năm 2016 đến 2021, đậu nành có xu hướng giảm về cả diện tích, năng suất và sản lượng.
Theo Tổng Cục thống kê Việt Nam 2023 diện tích trồng đậu nành ở Việt Nam năm 2021 chỉ còn 36,8 nghìn ha giảm 62,8 nghìn ha so với 2016.2 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu nành 2021 của các khu vực trên thế gidi Dién tich Nang suat San luong Khu vực „ „ (triệu ha) (tân/ha) (triệu tân) Châu Mỹ 98,98 3,27 324,21 Châu Á 21,75 1,43 51.17 Châu Phi 3,24 1,44 4,68 Chau Au 5,53 2,10 11,59 Chau Dai Duong 0,23 1,71 0,17 (FAOSTAT, 2023 ) Bang 1.