Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu chung về cây đậu nành 1.1 Nguồn gốc và phân loại Cây đậu nành rau (Glycine max (L.) Merrill) có nguồn gốc ở Trung Quốc, từ đó lan sang nhiều nước khác ở Châu Á như: Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, Đông Nam Á, Ấn Độ. Ghi chép đầu tiên về đậu nành được tìm thấy trong quyền bách khoa toàn thư Trung Quốc bao gồm các loại cây trồng được hoàng dé Cheng - Nung mô tả vào năm 2838 trước công nguyên. Nguồn gốc chính xác và lich sử trước đó thì không được biết. Về sau đậu nành được đề cập lặp đi lặp lại nhiều lần trong các ghi chép như là một cây trồng họ đậu quan trọng nhất trên khắp châu Á và đặc biệt là ở Trung Quốc.
Người Trung Quốc gọi một nhóm gồm năm loại hạt cốc thiêng liêng với cái tên là “Wu Ku”. Đậu nành rau được trồng đầu tiên ở nửa phan phía đông của miền bắc Trung Quốc vào thé kỷ 11 trước công nguyên. Phuong thức trồng đậu nành được du nhập vào Triều Tiên từ miền bắc Trung Quốc và vào Nhật Bản vào khoảng từ năm 200 trước công nguyên đến năm 300 sau công nguyên. Đậu nành cung cấp một nguồn protein rat quan trọng trong khẩu phần của con người trên nhiều quốc gia ở châu Á và là một thực phẩm và sản pham công nghiệp cực kỳ có giá trị trên khắp châu A.
Ở Châu Âu, đậu nành được trồng đầu tiên ở nước Pháp, nơi trồng đầu tiên là vườn thực vật Hoang Gia, Paris năm 1739. Về sau đậu nành được đưa sang trồng ở các nước như: Anh (1790); Hoa Kỳ (1804); Ý (1840); Úc, Đức, Poland, Holland (1875); Hulgari (1876); Nga (1901) (Trần Văn Lợt, 2010). Cây đậu nành được nói đến ở Châu Mỹ từ năm 1804 nhưng vào đầu thế kỷ XX mới được trồng phổ biến với vai trò làm thức ăn gia súc. Tại Mỹ, đến năm 1939 mới có 40% diện tích trồng đậu nành mới thu hoạch bằng hạt và đến năm 1947 diện tích thu hoạch bằng hạt lên đến 84,5%.
Ngày nay, tất cả điện tích trồng đậu nành đều thu bằng hạt (Trần Văn Lợt, 2010). Ở Việt Nam: Một số tài liệu cho rằng cây đậu nành rau được đưa vào trồng nước ta từ thời vua Hùng và xác định rằng nhân dân ta trồng cây đậu nành rau trước cây đậu xanh và cây đậu đen (Ngô Thế Dân và ctv, 1999). Ở miền Bắc nước ta đậu tương (đậu nành) được trồng tập trung ở các tỉnh miền núi và trung du: Sơn La, Cao Bằng, Hà Bắc và Đồng Bằng Sông Hồng.2 Đặc điểm thực vật học Rễ: Rễ đậu nành là loại rễ cọc gồm nhiều rễ cái và các rễ bên. Nó có khả năng ăn sâu tới 1 m nhưng thường tập trung tầng mặt 30 - 40 cm (tùy thuộc đặc tính của đất), độ ăn lan ngang thường 20 - 40 em, có trường hợp 60 - 80 em (Trần Văn Lợt, 2010).
Trên bộ rễ đậu nành có rất nhiều nốt san. Day là những cái bướu nhỏ bám vào các rễ, trong các bướu này có chứa hàng tỉ vi khuẩn cố định dam (Tran Văn Điền, 2007). Theo Phạm Văn Thiéu (2002), nốt san có màu hồng là những nốt có khả năng cố định đạm cao, sắc tố hồng là do sự có mặt của leghemoglobin. Thời gian xâm nhập ngay sau khi rễ đậu nành được hình thành, vi khuân Rhizobium japonicum có thé xâm nhập vào lông hút (Trần Van Lot, 2010).
Nốt san đậu nành có kích thước to hơn nốt san của đậu phộng. Đường kính trung bình từ 3 - 4 mm có khi đạt đến 10 mm. Số lượng nốt san: biến động từ 0 - 200 nót sằn/cây và ít hơn trên đậu phộng. Thân: Thân cây đậu nành rau hình tròn, có nhiều lông, mang nhiều đốt, chiều dài của các đốt cũng thay đổi tùy theo giống.
Thân khi còn non có màu xanh hoặc màu tím khi về già chuyên sang màu nâu nhạt, màu sắc của thân khi còn non có liên quan chặt chẽ với màu sắc của hoa sau này. Nếu thân lúc còn non màu xanh thì hoa màu trắng và nếu khi còn non thân có màu tím thì hoa có màu tím đỏ. Thân có trung bình 14 - 15 lóng, các lóng ở phía dưới thường ngắn, các lóng ở phía trên thường dài. Tuỳ theo giống và thời vụ gieo mà chiều dài lóng có sự khác nhau thường biến động từ 3 - 10 cm (Trần Văn Điền, 2007).
Lá: Có các dang lá theo từng thời ky sinh trưởng, phát triển của cây như lá mầm, lá đơn và lá kép có 3 lá chét. Lá mầm (tử điệp) lá mầm mới mọc có màu vàng hay xanh lục, khi tiếp xúc với ánh sáng thì chuyên sang màu xanh. Lá mầm chứa nhiều dinh dưỡng nuôi cây mam, khi hết chất dinh dưỡng lá mầm khô héo đi. Lá nguyên (lá 4 đơn) lá nguyên xuất hiện sau khi cây mọc từ 2 - 3 ngày và mọc phía trên lá mầm.
Lá đơn mọc đối xứng nhau. Lá đơn to màu xanh bóng là biểu hiện cây sinh trưởng tốt. Lá kép mỗi lá kép có 3 lá chét, có khi 4 - 5 lá chét. Lá kép mọc so le, lá kép thường có màu xanh tươi khi già biến thành màu vàng nâu.
Phần lớn trên lá có nhiều lông tơ. Các lá nằm cạnh chùm hoa nào giữ vai trò chủ chủ yếu cung cấp dinh dưỡng cho chùm hoa ấy. Nếu vì điều kiện nào đó làm cho lá bị úa vàng thì quả ở vị trí đó thường bị rụng hoặc lép (Trần Văn Điền, 2007). Cành: Cành có khả năng đâm ra từ đốt 1 đến đốt 13 nhưng mạnh nhất là từ đốt 2 - 7.
Đậu nành chỉ cho tối đa tới cành cấp 2. Thường có 80% cành cấp 1 và cành cấp 2 là 20% (Trần Văn Lợt, 2010). Số cành trên cây đậu nành nhiều hay ít còn tùy thuộc vào giống và các biện pháp kỹ thuật canh tác. Có giống chỉ có 1 — 2 cành hoặc không cành (Phạm Văn Thiéu, 2002).
Hoa: Hoa nhỏ có hình cánh bướm, hoa có màu tím hoặc trắng. Hoa phát sinh ở nách lá, đầu cành và đầu thân. Hoa mọc thành từng chùm, mỗi chùm có từ 1 - 10 hoa và thường có 3 - 5 hoa. Hoa đậu nành ra nhiều nhưng tỷ lệ rụng rất cao khoảng 30% có khi lên tới 80%.
Hoa đậu nành thuộc loại hoa đồng chu lưỡng tinh trong hoa có nhị và nhụy, mỗi hoa gồm 5 lá đài, 5 cánh hoa, có 10 nhị và 1 nhụy. Các cánh hoa vươn ra khỏi lá đài từ ngày hôm trước và việc thụ phan xảy ra vào sáng ngày hôm sau lúc 8 - 9 giờ sáng trước khi nụ hoặc hoa chưa nở hoàn toàn. Mùa hè hoa thường nở sớm hơn mùa đông và thời gian nở hoa rất ngắn sáng nở chiều tàn. Hoa đậu nành thường thụ phan trước khi hoa nở và là cây tự thụ phan, ty lệ giao phan rất thấp chiếm trung bình 0,5 - 1,0% (Trần Văn Điền, 2007).
Quả: Số quả biến động từ 2 đến 20 quả ở mỗi chùm hoa và có thể đạt tới 400 quả trên một cây. Trung bình một quả có từ 2 đến 3 hạt. Quả đậu nành thăng hoặc hơi cong, có chiều dài từ 2 tới 7 em hoặc hơn. Quả có màu sắc biến động từ vàng trắng tới vàng sam, nâu hoặc đen.
Da số ngoài vỏ quả có nhiều lông bao phủ, quả có màu xanh (có khả năng quang hợp do có điệp lục), mỗi quả có từ 1 - 3 hạt (Trần Văn Điền, 2007).3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây đậu nành rau Nhiệt độ: Ngưỡng nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng phát triển tốt 27 - 42°C. Nhiệt độ thích hop cho hat nay mầm 10 - 12°C (Pham Văn Thiéu, 2002), cây đậu nành 5 có nguồn gốc ôn đới nhưng không phải là cây chịu rét, nếu trồng trong điều kiện nhiệt độ thấp thì thời gian sinh trưởng của cây sẽ kéo đài hơn, trong giai đoạn cây tích lũy chất khô mà gặp nhiệt độ thấp sẽ anh hưởng xấu đến sự chín của qua, và chất lượng không được tốt (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2003). Ánh sáng: Đậu nành là cây ngày ngắn điển hình, nên ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng mạnh đến sinh trưởng. Đậu nành yêu cầu số giờ nắng không cao, chỉ cần 5 - 6 giờ nang/ngay.
Vì thé đậu nành có thé trồng xen với các cây trồng khác. Gieo hạt - mọc mam: 5,0 - 5,5 giờ/ngày; Moc mam- ra hoa: 4,5 - 5,0 giờ/ngày; Ra hoa - chín quả: 4,0 - 5,0 giờ/ngày. Với cây đậu nành thì ánh sáng không chỉ là yếu tố quyết định quang hợp mà còn ảnh hưởng đến hoạt động có định đạm của các nốt san, nên sẽ ảnh hưởng đến sản lượng chất khô và năng suất thu hoạch (Pham Văn Thiéu, 2002). Dau nành rất cần ánh sáng nhưng không cần ánh sáng gắt, cần nhất ở thời kỳ ra hoa kết trai.
Lượng mưa va ẩm độ: Cây đậu nành thích hợp với vùng có nhiệt độ tương đối cao, nhưng lại là cây chịu hạn kém. Tuy vậy, đậu nành cũng không thích nghi được với vùng có lượng mưa quá cao, mùa mưa kéo dài, lượng nước mưa trong năm đòi hỏi chỉ ở mức độ 700 mm và ẩm độ đất 50% (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2003). Có 2 thời kỳ cần nước nhất là thời kỳ nảy mầm và thời kỳ ra hoa kết quả. Nước: Tuy là cây trồng cạn nhưng nước cũng là yếu tố quan trọng cũng là yếu tố hạn chế đến việc canh tác đậu nành.
Trong suốt quá trình canh tác từ gieo hạt đến lúc thu hoạch thì cây cần ít nhất 300 mm nước. Ở giai đoạn ra hoa đậu quả và nuôi hạt thì cần rất nhiều nước nếu thiếu nước vào lúc này thì hoa bị rụng nhiều giảm số lượng quả (Phạm Văn Thiều, 2002). Dat: Dat trồng đậu nành rau không quá khát khe, cây thích nghỉ với nhiều loại đất khác nhau như: đất phù sa, đất cát pha, đất thịt, đất bãi, đất đồi núi. Chỉ cần bón đầy đủ phân hưu cơ và phân vô cơ, thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước tốt thì đất nào cũng có thê trồng được.
Tuy nhiên, đất tốt, đất nhẹ thì càng dễ trồng ít tốn công và đạt năng suất cao hơn đất xấu, đất nặng. Độ pH thích hợp cho cây có thé sinh trưởng phát triển là 5,2 - 6,5 (Phạm Văn Thiều, 2002). Dinh dưỡng: theo nghiên Hà Thị Thanh Thảo (2022) lượng phân bón cho cây đậu nành rau gồm 1.000 kg vôi + 10 tan phân bò ủ hoai + 60 kg N/ha + 60 kg P;Oz/ha 6 + 60 kg K,O/ha.4 Giá trị dinh dưỡng và kinh tế của cây đậu nành rau Cây đậu nành rau (Giycine max (L.