Chương 1 ĐIỀU KIỆN, CƠ SỞ VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ 1.1 Những điều kiện khách quan cho sự du nhập đạo Tin Lành vào thành phố Cần thơ Sự du nhập đạo Tin Lành vào địa bàn thành phố Cần Thơ có liên quan mật thiết đến điều kiện tự nhiên, trong đó quá trình khẩn hoang và yếu tố sông nước là hai nhân tố có ảnh hưởng đến sự du nhập của đạo Tin Lành ở nơi đây.1 Điều kiện tự nhiên liên quan đến đời sống tâm linh, tôn giáo ở thành phố Cần Thơ Công cuộc khẩn hoang ở Nam Bộ -Châu thổ sông Cửu Long và sự hình thành Trấn Giang(Cần Thơ) Vào thế kỷ XIII, Châu Đạt Quang khi đi thuyền theo cửa biển vào sông Tiền, theo hướng Tây - Nam đến Ăng Co đã ghi nhận trong sách “Chân Lạp Phong Thổ Ký” nói về vùng đất Châu Thổ sông Cửu Long như sau: “Nhìn lên bờ, chúng tôi thấy toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết được lối vào. Thế nên các thủy thủ cho rằng rất khó mà tìm đúng cửa sông”. Đến cuối thế kỷ XVIII, khi miệt trên Đồng Nai - Sài Gòn đã có thôn làng, bộ máy hành chính cai trị cấp phủ huyện đã chính thức thiết lập từ 1698 thì toàn vùng này từ cửa biển trở lên vẫn còn là rừng rậm hàng ngàn dặm. Một vùng đất Phương Nam hoang vu, mãi đến thế kỷ XVI, XVII mới được các tập đoàn lưu dân kéo tới khai khẩn, mở ra một tiến trình lịch sử mới với một mô thức văn hóa khác.
Trong tiến trình đó, Cần Thơ xưa là 10 “Lõm” đất chẳng những được khai phá có phần muộn màng so với miệt trên Đồng Nai - Sài Gòn mà cả với miệt dưới (Hà Tiên). Cuối thế kỷ XVII, ông Mạc Cửu là người Châu Lôi, tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc không thần phục nhà Thanh cùng nhiều đoàn tùy tùng và dân cư theo đường biển kéo thẳng vào miệt Hà Tiên giáp xứ Chân Lạp (Campuchia) mở vùng đất mới, khai khẩn, lập nghiệp. Thủ sở Trấn Giang ở bờ phía Tây sông Cần Thơ lập từ năm 1739, không chỉ là vị trí đồn thủ ở một địa điểm trên thủy lộ xung yếu mà còn là vùng khai mở rộng lớn dang tay đón người tứ phương từ miệt trên đổ xuống, miệt dưới đổ về để khai hoang lập nghiệp.Trong bối cảnh thường bị quân Xiêm và quân xứ Chân Lạp sang xâm lấn, quấy phá thì Trấn Giang (Cần Thơ) là một vùng hậu cứ của Hà Tiên - Rạch Giá khi hữu sự. Nói cách khác, việc khai mở vùng Trấn Giang là một yêu cầu kinh tế và quân sự.
Suốt thập niên 70 của thế kỷ XVIII, Trấn Giang đã trở nên một cứ điểm quan trọng và được phát triển trong bối cảnh lịch sử đầy xáo động. Tống trấn Mạc Thiên Tích có hai người con được phong chức Tham tướng: Một là, tham tướng Mạc Tử Dung giữ chức này trong trận chống Xiêm ở Hà Tiên năm 1771 đến năm 1774 được Chúa Nguyễn gia phong chức tham tướng cai cơ cho về trấn thủ Trấn Giang đạo. Năm 1777, Mạc Tử Dung cùng Mạc Thiên Tích chạy qua tỵ nạn ở Vọng Các (BangKok ngày nay).Năm 1780, Mạc Tử Dung bị Phi Nhã Tân (vua Xiêm) đánh chết vì nghi là người làm nội ứng trong mưu toan đánh chiếm Vọng Các.Vị tham tướng thứ hai, con của Mạc Thiên Tích, là Mạc Tử Sanh.Năm 1784, Chúa Nguyễn nghĩ đến dòng dõi công thần còn xót lại, bèn dùng Tử Sanh làm tham tướng phong tước Lý Chánh hầu. Giữa năm 1787, đại binh Chúa Nguyễn chiếm lại đạo Kiên Giang tiến vào Trấn Giang đánh phá quân Tây Sơn rồi thẳng đến 11 Ba Thắc, Trà Ôn, Sa Đéc chia binh đồn trú.
Tham tướng Mạc Tử Sanh đã tử trận trong khi đánh nhau với quân Tây Sơn. Như vậy, địa danh Tham tướng (vùng rạch Tham tướng thuộc phường Xuân Khánh, thành phố Cần Thơ hiện nay) được hình thành như chỗ đồn trú của binh lính Chúa Nguyễn do tướng Mạc Tử Sanh cầm quân trong hệ thống liên lập với Măng Thít, Sa Đéc ở một phía, phía bên kia với Trà Ôn, Ba Thắc và miệt Bãi Sào, Sóc Trăng. Đến năm Quý Dậu 1813, 26 năm sau ngày tham tướng Mạc Tử Sanh tử trận tại Trấn Giang, vua Gia Long cắt một vùng đất phì nhiêu ở vùng hữu ngạn sông Hậu (bao gồm Trấn Giang - Cần Thơ xưa) để lập riêng một huyện Vĩnh Định, trực thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh. Trên bản đồ sơn văn của A.Pouganne, Cần Thơ xưa là một giồng đất ven sông rạch có độ cao thuộc loại trên 2,50m.
Đặc điểm tự nhiên này là một ưu điểm cho việc cư trú. Trong sách Cần Thơ xưa và nay, nhà nghiên cứu Huỳnh Minh có trích một đoạn sách thời Gia Long Minh Mạng tả vị trí con sông Cần Thơ như sau: Sông Cần Thơ ở phía Đông huyện Phong phú ba dặm, bờ phía Tây sông Hậu, rộng 4 trượng, cựu thủ sở đạo Trấn Giang. Bắt đầu từ phía Nam Đại Giang chảy xuống, thông sông Bồn, rồi do cửa sông ấy chảy qua đà Sưu, đà Răng, cách 13 dặm đến ngã ba Ba Láng. Chi phía Bắc chảy qua Đông 12 dặm thông với sông Bình Thủy, lại một chi nữa cũng do phía Bắc chuyển về hướng Đông 45 dặm chảy ra cảng khẩu đạo Kiên Giang, gọi là cửa Bé.
Cộng đồng dân cư ở đây từ ngàn xưa gồm một bộ phận là binh lính và gia đình của quân binh Hà Tiên, Rạch Giá theo chồng, theo cha về trú ngụ ở Trấn Giang. Một bộ phận khác là những lưu dân từ miền ngoài đi vào, từ miền Đông đi xuống và ở lại trên đất Trấn Giang. 12 Xét về thời khai hoang, làng Tân An, Thới Bình đã được hình thành sớm ở trên vùng đất cao này. Có lẽ do sóng gió của sông lớn, rạch to mà con người lúc đầu cũng chưa có đủ phương tiện để làm chủ sức mạnh vô thức của tự nhiên nên phải lánh vào nơi rạch nhỏ sóng lặng như rạch Cần Thơ, rạch Tham tướng, rạch Bình Thủy.
Ở làng Bình Thủy, như tên gọi của nó, sông nước hiền hòa và phẳng lặng hơn. Do vậy, dân đến lập nghiệp sớm, nhanh chóng phát triển và trở thành nơi đất gốc của người dân Cần Thơ mà thế hệ sau này tự hào về nó. Đối với xứ sở này ngày xưa, rạch Cần Thơ từ đầu vàm giáp sông Hậu (bến Ninh Kiều ngày nay) chảy tới Phong Điền cùng với rạch Bình Thủy từ bờ sông Hậu chảy vào Giai Xuân - Long Tuyền là thủy lộ có vai trò lịch sử quan yếu đối với công cuộc khai canh định cư của xứ Cần Thơ ngày trước. Năm 1788, khi Chúa Nguyễn Ánh đã hoàn toàn làm chủ đất Phương Nam và tiến dần ra Trung Bắc, Trấn Giang (Cần Thơ) bước vào giai đoạn xây dựng hòa bình và ngày càng được củng cố hệ thống hành chính - cai trị của nhà Nguyễn.
Theo đó, hệ ý thức Nho giáo cùng với những chế định về văn hóa - giáo dục, những chuẩn tắc về đạo đức và chuẩn mực ứng xử càng được phát triển. Tóm lại, vào đầu thế kỷ XVI, ngoại trừ vùng cư trú của các tộc người bản địa Stiêng, Chrau, Mạ ở Đông Nam Bộ, hầu hết đất đai Nam Bộ đều là hoang hóa. Kể từ thời điểm đó, các cộng đồng lưu dân người Khmer, người Việt, người Hoa, người Chăm mới nối tiếp nhau tiến vào nơi này, chia nhau khai khẩn, đào kinh canh tác, định cư, buôn bán, dần dần biến một vùng đất hoang vu rộng lớn thành vùng nông nghiệp trù phú và đô thị sầm uất. Nền văn hóa Nam Bộ cũng từ đó đã hình thành như một kết quả dung hợp giữa 13 cái nền là văn hóa Việt với những yếu tố tiếp biến từ văn hóa Chăm, Khmer, Hoa và cả phương Tây sau này.
Yếu tố sông nước: Hình thành trên một vùng đồng bằng sông nước nên Cần Thơ có đặc trưng chủ đạo là đồng bằng sông nước. Do điều kiện địa lý đặc thù, nhờ sông Cửu Long có tốc độ dâng nước và tốc độ dòng chảy thấp, người ta không cần phải đắp đê ngăn lũ như ở đồng bằng sông Hồng, mà ngược lại còn tận dụng nguồn nước này vào mùa lụt để đưa nước ngọt và phù sa vào ruộng, rửaphèn ở vùng trũng, đánh bắt thủy sản. Không chỉ thế, sông nước nơi đây còn là tiền đề phát triển các nghề buôn bán trên sông, vận tải đường sông, v. Không ở đâu có nhiều từ ngữ để chỉ các loại hình và hoạt động sông nước như ở vùng này: sông, lạch, kinh, rạch, xẻo, mương, ao, hồ, đìa.
Với điều kiện thuận lợi đường thủy là phương tiện giao thông chính nên các nhà truyền giáo đến Cần Thơ truyền giáo Tin Lành, ghe thuyền là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho việc mở mang và truyền bá Tin Lành tại Việt Nam và tại Cần Thơ. Sông nước đã trở thành một yếu tố cấu thành đặc trưng của văn hóa nơi đây và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên tính cách, lối sống, quan niệm, tập quán của người dân Nam Bộ nói chung và nhân dân Cần Thơ nói riêng. Xét về mức độ, những đặc trưng chủ đạo này cũng là những nét đặc thù của vùng văn hóa Nam Bộ. Mặc dù đặc trưng đồng bằng sông nước cũng có mặt trong các vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ, nhưng chỉ ở Nam Bộ yếu tố sông nước mới nổi lên thành đặc trưng chủ đạo, chi phối toàn diện cuộc sống cũng như các thành tố văn hóa của các cộng đồng cư dân.
Tuy các vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ 14 đều có tiếp biến văn hóa của các tộc người khác nhau, nhưng chỉ ở Nam Bộ văn hóa các dân tộc thiểu số cộng cư mới đủ sức khúc xạ văn hóa của cư dân Việt trong vùng đến mức làm cho nó trở nên vừa quen vừa lạ đối với chính người Việt đến từ miền Bắc, miền Trung. Cần Thơ có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên nên các nhà phân tích và hoạch định chiến lược cho rằng, nơi đây có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng và an ninh, là khu vực trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long. Cần Thơ là địa bàn mà các tổ chức tôn giáo muốn thiết lập tổ chức và hoạt động lâu dài.2 Một số đặc điểm về các tộc người ở Cần Thơ Có thể hiểu, đặc trưng văn hóa là những nét trội về một hay một số mặt nào đó của văn hóa một dân tộc hay một cộng đồng.