CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÂY DỰNG TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1.Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Bất cứ ở giai đoạn lịch sử nào, giáo dục và đào tạo luôn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng, dân tộc và cả nhân loại. Do đó, từ trước đến nay sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ luôn được sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Từ sau cách mạng Tháng Tám (1945) đến nay, hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam đã có sự thay đổi qua 3 lần cải cách giáo dục. Cải cách giáo dục lần thứ nhất bắt đầu từ năm 1950: Chuyển hệ thống phân ban tú tài sang hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm.
Cải cách giáo dục lần thứ hai bắt đầu từ năm 1956: Chuyển hệ thống phân phổ thông 9 năm sang hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm. Cải cách giáo dục lần thứ ba bắt đầu từ năm 1979 (theo Nghị quyết số 14 NQ/TW ngày 11 tháng 1 năm 1979 của Bộ Chính trị, khóa IV): Chuyển hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm sang hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm. Cho đến nay hệ thống giáo dục quốc dân nước ta vẫn được tiếp tục nghiên cứu cải cách, điều chỉnh cho phù hợp với công cuộc đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo. Hệ thống giáo dục quốc dân tương đối ổn định, hoàn chỉnh về cơ cấu cấp học, bậc học, đa dạng hóa về các loại hình đào tạo từng bước hoàn thiện về trường, lớp có nhiều sự liên thông, với một mạng lưới rộng lớn trường học của tất cả các bậc học, cấp học phân bổ ở tất cả các vùng miền.
Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển lại xuất hiện một hệ thống trường học. Từ năm 1996 đến nay, hệ thống trường tiểu học nước ta theo kiểu mới. Hệ thống trường học nhằm: “Nâng cao chất lượng toàn diện, tiêu chuẩn hoá và hiện đại hoá các điều kiện dạy và học. Bảo đảm diện tích đất đai và sân chơi, bãi tập cho các 7 trường theo đúng quy định của Nhà nước.
Ban hành chuẩn quốc gia về trường học” [1]. Để xây dựng hệ thống nhà trường theo chuẩn quy định, giai đoạn 1996 – 2000 Bộ GD&ĐT đã ra Quyết định số 1366/QĐ-BGDĐT ngày 26 tháng 04 năm 1997 về việc Ban hành quy chế công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1996 - 2000 theo 5 tiểu chuẩn trên các mặt: Tổ chức và quản lý; Xây dựng đội ngũ giáo viên; Xây dựng cơ sở vật chất; Công tác xã hội hoá giáo dục; Hoạt động và chất lượng giáo dục. Đến ngày 24 tháng 10 năm 2005, Bộ GD&ĐT ra Quyết định số 32/2005/QĐ-BGDĐT về việc ban hành Quy chế công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia theo mức độ 1 và 2. Qua một thời gian triển khai thực hiện, kiểm nghiệm và điều chỉnh, Bộ GD&ĐT đã ra Thông tư số 59/2012/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 12 năm 2012 ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá, công nhận trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu, trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia.
Hệ thống nhà trường tiểu học hiện nay phải xây dựng theo mô hình dựa vào 5 tiêu chuẩn của của trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia với các cấp chất lượng tương ứng mức độ 1 và mức độ 2 [4]. Đến nay, Bộ GD&ĐT đã ra Thông tư số 17/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường tiểu học. Các tiêu chuẩn công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường tiểu học nhằm khuyến khích đầu tư và huy động các nguồn lực cho giáo dục, góp phần tạo điều kiện đảm bảo cho trường tiểu học không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục [6]. Trên cơ sở các quy định về xây dựng trường chuẩn quốc gia, các cuộc hội nghị, hội thảo, công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này và đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm về xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia được thể hiện ở các công trình nghiên cứu như sau: Bộ GD&ĐT và nhà xuất bản Giáo dục đã xuất bản tập: “Những bài giảng 8 về quản lý trường học” gồm 3 tập do Hà Sĩ Hồ, Lê Tuấn biên soạn.
Trong đó, tập 3 của bộ sách nói về “Nghiệp vụ quản lý trường học”. Bộ sách là tài liệu để thực hiện chương trình bồi dưỡng CBQL giáo dục [14]. Tác giả Nguyễn Văn Lê, Đỗ Hữu Tài (1996 ) đã ra bộ sách: “Chuyên đề quản lý trường học” giúp Hiệu trưởng các trường nâng cao nhiệm vụ quản lý trường học, làm giàu kinh nghiệm về các biện pháp quản lý chuyên môn. Tác giả Phan Thế Sủng với cuốn sách “Nghệ thuật ứng xử tình huống trong quản lý trường phổ thông” có đề cập: “Quản lý trường học thực chất là quản lý một tiểu hệ thống xã hội mang dấu ấn đặc trưng của quản lý quá trình lao động sư phạm.
Xây dựng CSVC nhà trường, xây dựng một đội ngũ đông đảo những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trường, hết lòng yêu thương, chăm sóc học sinh, không ngừng trao đổi đạo đức, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo” [23]. Quản lý xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia là một tình huống quản lý đặc biệt, khoa học của người Hiệu trưởng trong xây dựng và phát triển trường học thế hệ mới. Thời gian qua, một số luận văn cũng đã quan tâm nghiên cứu vấn đề này, như: Nguyễn Hữu Lam (2014), Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên, đã viết về: “Quản lý xây dựng trường chuẩn quốc gia mức độ 2 của Hiệu trưởng trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh”. Tác giả đã nghiên cứu đề cập đến việc xây dựng trường chuẩn quốc gia mức độ 2, ở phạm vi một trường tiểu học [18].
Trương Văn Trường (2007), Trường Đại học Sư Phạm Huế, với đề tài: “Các biện pháp quản lý xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia của phòng giáo dục quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng”. Tác giả thực hiện đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia của phòng giáo dục quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo các tiêu chuẩn quy định tại Quyết định số 32/2005/QĐ-BGDĐT ngày 24 tháng 10 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT [24]. Tống Thị Thanh Mai (2009), Khoa sư phạm trường Đại học Quốc gia Hà 9 Nội với đề tài “Biện pháp xây dựng các trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông”. Tác giả tập trung nghiên cứu trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia theo Quyết định số 32/2005/QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia theo mức độ 1 và 2 [19].
Tuy vậy, cho đến nay, tại huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này. Trên cơ sở tiếp thu hệ thống hóa lý luận, thực tiễn và kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi đã nghiên cứu đề tài: “Quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai” nhằm đi sâu nghiên cứu thực trạng của việc xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai .Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1. Quản lý Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mội tổ chức, mọi quốc gia, mọi thời đại.
Có nhiều cách giải thích thuật ngữ “quản lý” tùy thuộc vào cách tiếp cận khác nhau.Mác: “Quản lý là lao động điều khiển lao động” [9, tr. Quản lý là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại. “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân… Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [9, tr.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động, cho rằng: "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm 10 và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất" [11]. Koontz lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm hoặc tổ chức.
Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [13,tr. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhưng đều thống nhất cách hiểu đó là: Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm bảo đảm cho sự vận động, sự phát triển của hệ thống phù hợp với qui luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý. Tóm lại, quản lý là hoạt động của nhà quản lý nhằm đề ra các mục tiêu quản lý và thực hiện nó theo một quá trình nhất định. Đó là hoạt động trong đó nhà quản lý sử dụng các vai trò, chức năng và phương pháp quản lý một cách khéo léo vào việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá; việc phân công và phối hợp các lực lượng làm cho các cá nhân hợp tác cùng nhau để thực hiện và đạt được mục tiêu mà tổ chức đã đề ra.