chương 1 Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu các vấn đề liên quan đến đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua căn hộ officetel tại Thành Phố Hồ Chí Minh”. Tác 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về lý thuyết 2.1 Khái niệm về căn hộ officetel Khái niệm “Căn hộ” (condominium) là một khái niệm cổ đã được người La Mã cổ đại sử dụng từ thế kỷ thứ 6 trước CN, trong tiếng Latin “con” có nghĩa là “của chung” và “dominium” là “quyền sở hữu” hay “sử dụng”. Người La Mã là những người xây dựng nhà ở dạng chung cư đầu tiên với tên gọi “ Insula”. Thời bấy giờ chung cư là nơi dành cho những người nghèo và tầng lớp dưới với diện tích nhỏ hẹp.
Ở Việt Nam, theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014: Nhà chung cư là nhà có kết cấu từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn hộ. Nhà chung cư có phần sở hữu chung, có phần sở hữu riêng và các công trình hạ tầng sẽ sử dụng chung cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức. Nhà chung cư bao gồm nhà chung cư xây dựng có mục đích để ở và nhà chung cư xây dựng mới mục đích hỗn hợp để ở và kinh doanh. Tòa nhà chung cư có thể là một khối riêng biệt hoặc nhiều block có chung khối đế.
Cụm nhà chung cư là dự án được cơ quanh chức năng có thẩm quyền phê duyệt theo quy hoạch và có 2 tòa nhà chung cư trở lên. Phần diện tích sử dụng chung trong tòa nhà chung cư là tài sản chung không thể phân chia. Những trang thiết bị sử dụng chung trong khu diện tích chung có thể là của cá nhân hoặc là của chung để phục vụ chung cho tòa nhà. Đối với phần diện tích sử dụng chung cũng như trang thiết bị trong khu vực sử chung thì mọi người đều phải có trách nhiệm và nghĩa vụ ngang nhau.
Officetel là một định nghĩa mới, là từ ghép của từ officetel (văn phòng) và hotel (khách sạn) vậy căn hộ officetel là một mô hình kết hợp giữa văn phòng cho thuê và khách sạn, là loại hình căn hộ đa năng với công năng sử dụng vừa để ở vừa làm văn phòng.2 Phần sở hữu của căn hộ officetel Căn hộ officetel là dạng căn hộ mới, phần sở hữu của căn hộ office cũng giống như căn hộ chung cư. Phần sở hữu riêng trong nhà chung cư bao gồm: - Phần diện tích được công nhận của căn hộ bao gồm: Diện tích bên trong căn hộ và diện tích ban công, lô gia gắn liền với căn hộ đó. - Phần diện tích khác được công nhận là quyền sở hữu riêng cho chủ sở hữu nằm trong tòa nhà chung cư.( Quy định trong hợp đồng mua bán, văn bản thỏa thuận, thông báo bằng văn bản.) - Hệ thống trang thiết bị kỹ thuật sử dụng riêng gắn liền với căn hộ hoặc gắn liền với phần diện tích khác thuộc sở hữu riêng. Phần sở hữu chung của nhà chung cư bao gồm: - Ngoài các phần diện tích thuộc quyền sở hữu riêng thì được coi là phần sở hữu chung của tòa nhà chung cư.
- Tất cả các hệ thống kỹ thuật, hệ thống kết cấu chịu lực, không gian dùng chung cho tòa nhà chung cư. Bao gồm khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, đường thoát hiểm, lồng xả rác, hộp kỹ thuật, hệ thống cấp điện, cấp nước, cấp ga, sàn, mái, sân thượng, hành lang, cầu thang bộ, thang máy, hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, cứu hỏa và các phần khác không thuộc phần sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư. - Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài tòa nhà nhưng được kết nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật của tòa nhà có nằm trong quy hoạch xây dựng được phê duyệt và được sử dụng vào mục đích công cộng không thuộc diện phải bàn giao cho nhà nước hoặc được giao cho chủ đầu tư quản lý hoặc đơn vị vận hành khác được chấp thuận. 8 - Các công trình công cộng trong khu vực nhà chung cư như: Sân chung, vườn hoa, công viên và các công trình khác, được xác định trong nội dung của dự án đầu tư xây dựng nhà ở được phê duyệt.
Nhưng không thuộc diện đầu tư xây dựng để kinh doanh hoặc không phải bàn giao cho Nhà nước. Chỗ để xe và việc xác định diện tích sử dụng căn hộ, diện tích khác trong nhà chung cư: - Chỗ để xe phục vụ cho các chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư bao gồm xe ô tô, xe động cơ hai bánh, xe động cơ ba bánh, xe đạp và xe cho người khuyết tật thì chủ đầu tư phải xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, thiết kế được phê duyệt và phải được sử dụng đúng mục đích. Việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với chỗ để xe được quy định như sau: - Đối với chỗ để xe đạp, xe dùng cho người khuyết tật, xe động cơ hai bánh, xe động cơ ba bánh cho các chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư thì thuộc quyền sở hữu chung, sử dụng chung của các chủ sở hữu nhà chung cư; - Đối với chỗ để xe ô tô dành cho các chủ sở hữu nhà chung cư thì người mua, thuê mua căn hộ hoặc diện tích khác trong nhà chung cư quyết định mua hoặc thuê; trường hợp không mua hoặc không thuê thì chỗ để xe ô tô này thuộc quyền quản lý của chủ đầu tư và chủ đầu tư không được tính vào giá bán, giá thuê mua chi phí đầu tư xây dựng chỗ để xe này. Việc bố trí chỗ để xe ô tô của khu nhà chung cư phải bảo đảm nguyên tắc ưu tiên cho các chủ sở hữu nhà chung cư trước sau đó mới dành chỗ để xe công cộng.
- Diện tích sử dụng căn hộ hoặc phần diện tích khác trong nhà chung cư thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu căn hộ trong tòa nhà chung cư. Được tính theo kích thước thông thủy bao gồm cả phần diện tích tường ngăn các phòng bên trong căn hộ, diện tích ban công, lô gia (nếu có) và không tính diện tích tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, diện tích sàn có cột, hộp kỹ thuật nằm bên trong căn hộ. 9 Khi tính diện tích ban công thì tính toàn bộ diện tích sàn; trường hợp ban công có phần diện tích tường chung thì tính từ mép trong của tường chung.3 Phân hạng căn hộ chung cư Nhà chung cư là mô hình nhà ở ngày càng phát triển mạnh mẽ ở nước ta, đặc biệt là các thành phố lớn, trong bối cảnh, tình hình quỹ đất ngày càng hạn hẹp và số lượng dân cư ngày càng gia tăng. Do thị hiếu của người sử dụng cũng như phân chia để dễ quản lý, sử dụng, pháp luật quy định về phân loại hạng chung cư, bên cạnh đó, các căn hộ chung cứ cũng được phân thành các hạng A, B, C tuỳ theo các tiêu chí khác nhau.
Phân hạng nhà chung cư được dựa trên 4 nhóm tiêu chí: (1) Nhóm tiêu chí về quy hoạch – kiến trúc. (2) Nhóm tiêu chí về hệ thống, thiết bị kỹ thuật. (3) Nhóm tiêu chí về dịch vụ, hạ tầng xã hội. (4) Nhóm tiêu chí về chất lượng, quản lý, vận hành.
Trong mỗi nhóm sẽ có các tiêu chí cụ thể hơn, để phân biệt giữa các hạng chung cư với nhau. Theo quy định tại Điều 6, Thông tư 31/2016/TT-BXD, Nhà chung cư được phân thành 03 hạng như sau: - Hạng A: Là nhà chung cư đáp ứng đầy đủ các yêu cầu để được phân hạng theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Thông tư này, đồng thời phải đạt tối thiểu 18 trên tổng số 20 tiêu chí theo hướng dẫn tại phụ lục số 01 ban hành kèm theo Thông tư này. - Hạng B: Là nhà chung cư đáp ứng đầy đủ các yêu cầu để được phân hạng theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Thông tư này, đồng thời phải đạt tối thiểu 18 trên tổng số 20 tiêu chí theo hướng dẫn tại phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư này. 10 - Hạng C: Là nhà chung cư đáp ứng đầy đủ các yêu cầu để được phân hạng theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Thông tư này nhưng không đạt đủ tiêu chí để công nhận hạng A và hạng B theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.
Theo thông thường, cũng tương tự như đối với căn hộ, người ta thường cho rằng, chung cư hạng A là chung cư cao cấp, chung cư hạng B là chung cư trung cấp và chung cư hạng C là chung cư bình dân. Đối với chung cư hạng A, cần phải đạt tối thiểu 18 trên tổng số 20 tiêu chí sau đây: 1. Vị trí: Có hệ thống giao thông thuận tiện, cách đường phố chính (cấp đô thị, cấp khu vực) dưới 0.5 km; có thể tiếp cận phương tiện giao thông công cộng đô thị (cách ga, bến đỗ, trạm dừng xe bus, tàu điện ngầm, tàu điện trên cao) trong phạm vi dưới 0. Mật độ xây dựng: Mật độ xây dựng (diện tích chiếm đất công trình) không quá 45%.
Sảnh căn hộ: Sảnh chính khu căn hộ được bố trí độc lập với lối vào khu vực để xe, khu vực dịch vụ, thương mại và khu vực công cộng khác; có quầy lễ tân, có phòng hoặc khu vực bố trí bàn ghế tiếp khách. Hành lang: Hành lang căn hộ có chiều rộng tối thiểu 1. Diện tích căn hộ: Bình quân diện tích sử dụng căn hộ trên số phòng ngủ tối thiểu là 35m2.Tính theo công thức: ≥ 35m2. Phòng vệ sinh: Bình quân tổng số phòng vệ sinh trên tổng số phòng ngủ của các căn hộ ≥ 0.
Tính theo công thức: ≥ 0. Thang máy: Mỗi thang máy phục vụ tối đa không quá 40 căn hộ (tổng số căn hộ chia cho tổng số thang máy phục vụ căn hộ ≤ 40). Chỗ để xe: Tối thiểu mỗi căn hộ có 01 chỗ để ôtô (có mái che). Cấp điện: Có máy phát điện dự phòng đủ công suất và hệ thống cấp điện đảm bảo cho sinh hoạt trong căn hộ và hoạt động của các thiết bị, chiếu sáng chung của tòa nhà khi mất điện lưới hoặc nguồn cấp điện bình thường khác của tòa nhà.
Cấp nước: Dung tích bể chứa nước sinh hoạt cho căn hộ trên tổng số căn hộ tối thiểu đạt 1600 lít (đảm bảo cấp 200 lít/người/ngày - đêm trong 2 ngày). Thông tin, liên lạc: Có hệ thống cung cấp dịch vụ truyền hình cáp, điện thoại, internet tốc độ cao đến từng căn hộ.