chương 1, bài khóa luận đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, các mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu. Những nội dung này sẽ giúp người đọc có cái nhìn tổng quát về nội dung, từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu sâu về đề tài, các lý thuyết liên quan ở các chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Các khái niệm liên quan 2.
Quyết định Theo Simon (1978), ra quyết định là một chuỗi các bước mà cá thể nhận thức vấn đề dẫn đến việc lựa chọn một niềm tin hoặc quá trình lựa chọn các khả năng thay thế khác. Mỗi một quá trình đưa ra quyết định sẽ tạo ra được một lựa chọn cuối cùng và điều ấy có thể hoặc là không thể đưa đến lợi ích cho hành động. Ra quyết định là quá trình xác định các lựa chọn và chọn ra các lựa chọn thay thế dựa trên nền tảng là các giá trị, sở thích và niềm tin của người ra quyết định. Theo Yates và Zukowski (1976), ra quyết định là hoạt động lựa chọn hành động làm gì hoặc không làm gì để đạt được các mục tiêu đề ra.
Ngoài ra, theo Mintzberg và cộng sự (1976) cho rằng quyết định là các cam kết hành động, sự phân bổ các nguồn tài nguyên. Theo Minh Lan (2019), ra quyết định là một quá trình bao gồm các bước cơ bản như xác định vấn đề, hình thành các phương án tối ưu, lựa chọn một phương án tối ưu nhất để thông qua và cuối cùng là văn bản hóa quyết định. Hành vi khách hàng Một số nhà nghiên cứu từ Hiệp hội Tiếp thị Hoa Kỳ tin rằng hành vi của khách hàng là sự tương tác qua lại giữa các yếu tố kích thích môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà thông qua sự tương tác này thay đổi cuộc sống của họ. Nói cách khác, các hành vi của khách hàng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà mọi người có thể nhận được và các hành động họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng.
Các yếu tố như ý kiến từ người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, phía ngoài sản phẩm. Mọi thứ có thể ảnh hưởng đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng. Theo Kotler và Levy (1969), các hành vi của khách hàng là những hành vi cụ thể của một người khi quyết định mua, sử dụng và loại bỏ các sản phẩm hoặc dịch vụ. Do đó, trong hai định nghĩa ở trên, chúng ta có thể xác định hành vi khách hàng là: Suy nghĩ và cảm nhận của con người trong quá trình mua hàng và tiêu dùng.
7 Hành vi của khách hàng là năng động và tương tác bởi vì nó bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường bên ngoài và có tác động ngược lại với môi trường này. Hành vi khách hàng bao gồm các hoạt động: Mua sắm, sử dụng và loại bỏ các sản phẩm dịch vụ. Các lý thuyết liên quan 2. Thuyết về động cơ học ngoại ngữ của Crookes và Schmidt Công trình nghiên cứu của Crookes và Schmidt (1991) đã mở ra một kỷ nguyên mới trong việc nghiên cứu động cơ học tập trong lĩnh vực giảng dạy và học tập ngoại ngữ.
Hai tác giả cũng đã chỉ ra rằng, các công trình nghiên cứu từ trước đến nay đã bỏ qua vai trò của môi trường giảng dạy trong lớp học đối với quá trình học ngoại ngữ. Mối tương quan giữa động cơ học tập và việc học ngoại ngữ được phân tích qua bốn khía cạnh sau đây : Crookes và Schimidt (1991) cho rằng điều kiện chính cho việc học ngoại ngữ là sự tập trung của người học vào nội dung học tập. Phạm vi tình huống giảng dạy trong giờ học bao gồm những hoạt động kỹ thuật được giảng viên và học viên thực hiện trong giờ học. Phạm vi về chương trình giảng dạy: Giảng viên thảo luận với đồng nghiệp về việc lựa chọn các tài liệu giảng dạy và về những điểm mạnh và điểm yếu của tài liệu đã được đưa vào sử dụng trong giờ học.
Đặc biệt, chương trình giảng dạy phải được soạn thảo dựa trên cơ sở nhu cầu của người học. Phạm vi ngoài giờ học đề cập đến môi trường ngoài lớp, nơi mà sinh viên có thể sử dụng tốt những kiến thức ngôn ngữ đã lĩnh hội được. Thuyết động cơ học tập của Williams và Burden Theo Williams và Burden (1997), mỗi người có một động cơ học tập khác biệt nhau. Do đó, cách để đảm bảo một người tham gia vào việc học ngoại ngữ và sự kiên trì trong việc học ngoại ngữ để đạt được kết quả mong muốn quá trình học tập của mỗi người là hoàn toàn khác nhau.
Theo hai tác giả, động cơ học tập bao gồm ba yếu tố chính sau: Lý do học tập bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi người. Quyết định học hỏi. 8 Duy trì sự nỗ lực cũng như sức chịu đựng để hoàn thành học tập tốt và đầy đủ. Ngoài ra, theo Williams và Burden (1997), động cơ học tập là kết quả của sự kết hợp của các yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong của mỗi người.
Các yếu tố bên trong của mỗi người bao gồm nguyên nhân của hành vi học tập, khả năng kiểm soát sự thay đổi trong quá trình học tập và khả năng thực hiện mục tiêu. Các yếu tố bên ngoài của mỗi cá nhân phải đề cập đến đầu tiên là cha mẹ, giáo viên và bạn bè. Họ không ảnh hưởng trực tiếp nhưng có khả năng hỗ trợ và thúc đẩy các quá trình học tập của người học. Thuyết về động cơ học tập của Dõrnyei Trong thuyết về động cơ học tập của Dõrnyei (2000) có ba phạm vi chính: Phạm vi về ngôn ngữ bao gồm các giá trị văn hóa, ngôn ngữ và giá trị về ngữ dụng học cũng như thái độ của người học trong với ngôn ngữ và văn hóa.
Những giá trị văn hóa và ngôn ngữ này được xác định trong môi trường xã hội của người học. Ví dụ, người học sẽ có ấn tượng tốt về ngôn ngữ họ muốn học, nếu họ thường xuyên xem phim hoặc chương trình truyền hình có ngôn ngữ này, thiết lập mối quan hệ với người bản ngữ hoặc tham gia các chương trình trao đổi văn hóa. Phạm vi của người học gồm các yếu tố cá nhân mà người học phát triển trong quá trình học tập. Hai yếu tố chính góp phần vào sự thành công của người học là mong muốn đạt được thành công và tự tin vào khả năng của chính họ.
Về môi trường học tập: Môi trường học tập liên quan đến đặc trưng của các khía cạnh khác nhau của việc học ngôn ngữ trong lớp học. Môi trường học tập bao gồm ba thành phần chính sau: Yếu tố khóa học nhằm để thúc đẩy các động cơ học tập như chương trình giảng dạy, tài liệu, phương pháp giảng dạy và nhiệm vụ của người học. Các yếu tố đặc trưng của các giáo viên đề cập đến tính cách cũng như phong cách giảng dạy và hành vi của các giáo viên trong lớp học. Các yếu tố đặc trưng của nhóm học tập: thể hiện sự hợp tác trong nhóm và hiểu biết thông qua các hoạt động trong giờ học.
Thuyết Hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA) được xây dựng vào năm 1967 và được điều chỉnh để phát triển vào đầu những năm 1970 bởi Ajzen và Fishbein (1980). Mô hình khảo sát cho thấy xu hướng tiêu dùng là những dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu tốt nhất sử dụng. Để chú ý nhiều hơn đến các yếu tố góp phần vào xu hướng mua, cho hai yếu tố về thái độ và tiêu chuẩn khách hàng. Trong mô hình khảo sát, thái độ được đo bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm.
Người tiêu dùng sẽ chú ý đến các thuộc tính mang lại những lợi ích cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau. Nếu bạn biết trọng lượng của các thuộc tính này, nó có thể dự đoán kết quả của việc lựa chọn người tiêu dùng. Các yếu tố tiêu chuẩn chủ quan có thể được đo lường bởi những người liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, .); Những người này thích hoặc không thích họ mua. Mức độ tác động của các tiêu chuẩn chủ quan đối với xu hướng mua người tiêu dùng phụ thuộc vào: Mức độ ảnh hưởng của những người liên quan đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng và lý do tiêu dùng đối với những người được liên kết là hai yếu tố cơ bản để đánh giá các tiêu chuẩn chủ quan.
Sự gần gũi của những người có người tiêu dùng khó khăn hơn là ảnh hưởng lớn nhất đến các quyết định lựa chọn của họ. Sự tự tin của người tiêu dùng lớn hơn đối với người lớn hơn, xu hướng mua hàng cũng tuyệt vời. Ý định mua hàng của người tiêu dùng sẽ bị ảnh hưởng bởi những người này có mức độ ảnh hưởng cao khác nhau. 1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Fishbein và Ajzen (1975).
Theo như mô hình thì có 2 yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng hành vi của khách hàng, yếu tố quyết định trực tiếp đến hành vi là xu hướng hành vi. Chuẩn chủ quan nói lên người tiêu dùng có thể sẽ chịu sự tác động và ảnh hưởng của những người xung quanh như ba/mẹ, vợ/chồng, anh/chị, bạn bè/ đồng nghiệp đến ý định mua của mình. Ý định mua của người tiêu dùng sẽ bị tác động bởi người ảnh hưởng theo nhiều mức độ khác nhau. Thái độ là một trong những nhân tố quyết định trong việc lý giải hành vi tiêu dùng.
Thái độ đối với hành động là một biến cố xã hội của niềm tin ở kết quả và đánh giá của cá nhân về sản phẩm, dịch vụ đó.5 Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) Lý thuyết của TPB được phát triển bởi Ajzen vào năm 1985 từ lý thuyết về lý do hành động lý luận (Ajzen & Fishbein, 1980; Fishbein & Ajzen, 1975), đây được coi là lý thuyết đầu tiên trong lĩnh vực tâm lý xã hội nghiên cứu. Lý thuyết hành động hợp lý đề cập đến ý định hành vi, yếu tố này được xác định bởi thái độ đối với hành vi và các tiêu chuẩn xã hội xoay quanh việc thực hiện hành vi. Hai yếu tố chính trong mô hình này ảnh hưởng đến các ý định tích cực bao gồm thái độ và nhận thức được áp lực xã hội.