CHƯƠNG 1 Chương này đã trình bày tầm quan trọng của thương hiệu và ảnh hưởng của các yếu tố nhận diện thương hiệu tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ. Cùng với sự thay đổi mạnh mẽ về chiến lược hoạt động, hình ảnh thương hiệu của MSB từ tháng 1/2019 thì việc đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố nhận diện thương hiệu đến quyết định sử dụng dịch vụ của khách hàng đối với MSB lại càng có ý nghĩa thực tiễn và cần thiết. Việc khảo sát cụ thể tại Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh (là chi nhánh lớn nhất tại miền Nam) có thể giúp đề tài đạt được trọng tâm nghiên cứu thông qua việc khảo sát thuận tiện với mẫu khảo sát tập trung tại cùng một đối tượng khách 10 hàng giao dịch, giúp phản ánh rõ nét hơn tác động của các yếu tố, giúp cho ngân hàng thấy được thực trạng hiện tại để từ đó có những chiến lược phù hợp. Điều này khẳng định tính cấp thiết và hướng nghiên cứu đề tài của tác giả.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Thương hiệu 2. Định nghĩa thương hiệu Thương hiệu (brands) từ lâu đã được nhiều nhà kinh tế học quan tâm cũng như thực hiện nhiều nghiên cứu, tìm hiểu nhằm đánh giá ý nghĩa, các tác động và các yếu tố ảnh hưởng của nó. Về tổng quan, có hai cách tiếp cận về khái niệm thương hiệu.
Theo cách tiếp cận thứ nhất, chức năng cơ bản và trước nhất của thương hiệu đơn giản là dùng để phân biệt các sản phẩm với nhau. Một số phát biểu theo hướng tiếp cận này: - Theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt giúp nhận biết một sản phẩm, hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức, để phân biệt với các sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ khác trên thị trường. - Theo hiệp hội nhãn hiệu thương mại quốc tế (ITA): Thương hiệu bao gồm những từ ngữ, tên gọi, biểu tượng hay bất kì sự kết hợp nào giữa các yếu tố trên được dùng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hoá của các nhà sản xuất hoặc người bán với nhau và để xác định nguồn gốc của hàng hoá đó. - Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: Thương hiệu là một tên gọi, thuật ngữ, ký hiệu, biểu tượng hoặc thiết kế hoặc là sự kết hợp chúng với nhau nhằm nhận diện một hàng hóa và dịch vụ một người bán hàng hoặc nhóm của những người bán hàng phân biệt với đối thủ.
Với cách tiếp cận thứ hai, thương hiệu có nghĩa rộng hơn, tập trung vào nhiều khía cạnh hơn so với khái niệm thuộc hướng tiếp cận thứ nhất, ngoài việc là một “lời hứa hẹn” của người bán đối với người mua về tính chất và lợi ích của sản phẩm hoặc dịch vụ, thương hiệu còn “thực sự tạo ra khả năng được nhận biết, danh tiếng, sự nổi 12 bật” cho sản phẩm hoặc dịch vụ trên thị trường (Keller, 2008). Cách tiếp cận này đi cùng với một số học giả nổi tiếng như: - Theo Philip Kotler (2006): Thương hiệu là sản phẩm, dịch vụ được thêm vào các yếu tố để khác biệt với sản phẩm dịch vụ khác cũng được thiết kế để thỏa mãn cùng nhu cầu. Sự khác biệt này có thể là về mặt chức năng, các yếu tố hữu hình của sản phẩm. Chúng cũng có thể là những yếu tố mang tính biểu tượng, cảm xúc, hoặc vô hình mà thương hiệu thể hiện ra.
- Theo John Murphy, người sáng lập ra Interbrand - công ty tư vấn hàng đầu thế giới về xây dựng thương hiệu, đã khái quát các thành phần của thương hiệu bao gồm “bản thân sản phẩm, bao bì, nhãn hiệu, hoạt động tuyên truyền, quảng cáo và toàn bộ quá trình thể hiện sản phẩm,” và kết luận rằng thương hiệu là “tổng hợp của tất cả các yếu tố này, cả về mặt vật chất hữu hình, thẩm mỹ, lý trí và cảm xúc”. - Theo Ambler & Style: Thương hiệu là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Như vậy các thành phần marketing hỗn hợp (sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là các thành phần của một thương hiệu. - Theo David Aaker (một trong những chuyên gia thương hiệu hàng đầu của Mỹ): Thương hiệu là hình ảnh có tính chất văn hóa, lý tính, cảm xúc, trực quan và độc quyền mà khách hàng liên tưởng khi nhắc đến một sản phẩm hay một công ty.
Hướng tiếp cận này nhấn mạnh đến đặc tính vô hình của thương hiệu – yếu tố quan trọng đem lại giá trị cho công ty. Theo đó, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, vì người tiêu dùng có hai nhu cầu: (1) nhu cầu về chức năng (functional needs) và (2) nhu cầu về tâm lý (psychological needs). Sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng lợi ích chức năng, còn thương hiệu mới có thể cung cấp cho con người cả lợi ích chức năng và lợi ích về mặt tâm lý” (Hankinson & Cowking, 1996). Theo hướng tiếp cận này, thương hiệu được hiểu là tập hợp những cảm nhận của khách hàng về một công ty, một sản phẩm hay dịch vụ với đầy đủ các khía cạnh: mô 13 tả nhận diện (brand identities), giá trị (brand values), thuộc tính (brand attributes), cá tính (brand personality).
Thương hiệu ràng buộc với người tiêu dùng qua mối quan hệ thương hiệu-người tiêu dùng (brand-consumer relationship). Như vậy, tổng quan lại, thuật ngữ thương hiệu không chỉ đơn thuần là dấu hiệu phân biệt hàng hóa, dịch vụ mà còn có ý nghĩa cao hơn là hình ảnh về hàng hóa hoặc hình ảnh về doanh nghiệp trong suy nghĩ của khách hàng, nó gắn liên với uy tín, chất lượng, thái độ phục vụ và phòng cách kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, thương hiệu còn được thể hiện bởi thông điệp, tầm nhìn, mục tiêu, văn hóa, hình ảnh, cam kết của doanh nghiệp (Dunnion và Knox, 2004). Một thương hiệu thành công đánh dấu một sản phẩm là có lợi thế cạnh tranh bền vững.
Microsoft, IBM, BMW, Coca Cola, Shell. là những ví dụ điển hình về thương hiệu doanh nghiệp; Louis Vuiton, GUCCI, Dove, Tide. là những ví dụ điển hình về thương hiệu sản phẩm. Các thành phần của thương hiệu Với quan điểm về thương hiệu như ngày nay, thương hiệu là tập hợp gồm nhiều thành phần có mục đích cung cấp lợi ích chức năng và lợi ích về mặt tâm lý cho khách hàng, bao gồm: a) Thành phần chức năng: Là các yếu tố có mục đích rõ ràng cung cấp lợi ích chức năng cho chính khách hàng về các thuộc tính bao gồm như: các đặc trưng bổ sung, chất lượng sản phẩm, công dụng sản phẩm… b) Thành phần cảm xúc: Bao gồm các yếu tố giá trị mang tính biểu tượng nhằm tạo cho khách hàng những lợi ích về tâm lý.
Các yếu tố này có thể là nhãn hiệu hàng hoá (gồm nhãn hiệu dịch vụ), hoặc nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận hoặc tên thương mại, hoặc chỉ dẫn địa lý (gồm tên gọi xuất cứ, hàng hoá). Trong đó: 14 - Nhãn hiệu hàng hoá: là dấu hiệu dùng để nhận biết hàng hoá hoặc dịch vụ của một cơ sở kinh doanh, giúp phân biệt chúng với hàng hoá dịch vụ của các cơ sở kinh doanh khác. Nhãn hiệu hàng hoá có thể là chữ cái hoặc số, từ hình ảnh hoặc hình vẽ, hình khối (3 chiều) hoặc sự kết hợp giữa các yếu tố này. Nhãn hiệu hàng hoá được hiểu bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ.
- Nhãn hiệu tập thể: là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ của các thành viên thuộc một hiệp hội với sản phẩm hoặc dịch vụ của các cơ sở không phải là thành viên. - Nhãn hiệu chứng nhận: là loại nhãn hiệu dùng để chỉ rằng sản phẩm hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu đó đã được chủ nhãn hiệu chứng nhận về xuất xứ địa lý, vật liệu sản xuất ra sản phẩm phương pháp sản xuất sản phẩm, tiêu chuẩn thực hiện dịch vụ chất lượng chính xác, hoặc các phẩm chất khác. - Tên thương mại: Là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh.
Việc làm cho khách hàng để ý và nhớ lâu tên thương mại là điều vô cùng quan trọng trong việc kinh doanh sản phẩm. - Chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hoá: Là những từ, tên gọi, dấu hiệu, biểu tượng hình ảnh chỉ ra rằng sản phẩm đó có nguồn gốc tại quốc gia, vùng, lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hoá này có được chủ yếu do nguồn gốc địa lý tạo nên. - Tên gọi xuất xứ hàng hoá: Là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo, ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó. Vai trò của thương hiệu Thương hiệu là một thành phần phi vật thể nhưng lại là một thành phần thiết yếu của một doanh nghiệp.
Một khi mà các sản phẩm đã đạt đến mức độ hầu như không thể phân biệt được bằng tính chất, đặc điểm và lợi ích công dụng thì thương hiệu là yếu tố duy nhất tạo ra sự khác biệt giữa các sản phẩm. thương hiệu nói lên sự tin tưởng và sự an toàn. Theo thống kê tại Mỹ, bình quân trong một ngày người tiêu dùng tiếp xúc với khoảng 6 ngàn hoạt động quảng cáo, và mỗi năm có tới hơn 25 ngàn sản phẩm mới ra đời. Sống trong một thế giới như vậy, thương hiệu là yếu tố giúp người tiêu dùng không bị lẫn lộn, nó giúp người tiêu dùng vượt qua mọi sự lựa chọn vốn ngày càng đa dạng khi mua một sản phẩm hay dịch vụ.
Trong một số cuộc thử nghiệm nếm Pepsi-coca và Coca-cola, khi nếm sản phẩm không có nhãn hiệu, rất ít người nhận ra sự khác biệt giữa hai loại nước giải khát này, nhưng khi được hỏi với sản phẩm có nhãn thì đến 65% người tiêu dùng cho là mình thích Coca-cola hơn. Đây chính là kết quả giá trị mà thương hiệu mang lại. Nhận diện thương hiệu 2.