ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc chữa bệnh là một trong những mặt hàng kinh doanh có điều kiện, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người. Với sự phát triển của xã hội cùng với nền kinh tế đang đi lên, con người luôn hướng đến sự tiện lợi và hiệu quả khi sử dụng thuốc. Điều đó kéo theo sự phổ biến của các cơ sở bán lẻ thuốc tại Việt Nam, đặc biệt là mô hình kinh doanh quầy thuốc, nhà thuốc. Nhà thuốc là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới cung ứng thuốc quốc gia nhằm bảo đảm việc sử dụng thuốc một cách an toàn, hợp lý và hiệu quả.
Do đó, hoạt động tại các nhà thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe nhân dân. Ở nước ta, người dân thường có thói quen đến CSBL để mua thuốc vì đến bệnh viện thăm khám khi gặp các vấn đề về sức khỏe. Đó là lí do vì sao nhà thuốc đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống phân phối thuốc quốc gia và chăm sóc sức khỏe ban đầu. Và hoạt động kinh doanh nhà thuốc cũng nhờ đó mà phát triển ngày càng nhanh kèm theo sự cạnh tranh nhau cải tiến không ngừng.
Thực tế cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc kinh doanh của nhà thuốc. Có thể kể đến như chủ cơ sở bán lẻ, điều kiện cơ sở vật chất, khách hàng,…và đối thủ cạnh tranh cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Trong kinh doanh, bất kể ngành nghề nào cũng đều xuất hiện những đối thủ cạnh tranh và các nhà thuốc cũng không ngoại lệ. Đối thủ cạnh tranh luôn là mối đe dọa, là yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu của các nhà thuốc nhưng nếu biết phân tích đối thủ cạnh tranh để khai thác, tìm hiểu, vận dụng các điểm mạnh, điểm yếu của họ thì chúng ta có thể rút ra nhiều bài học, kinh nghiệm cho chính bản thân và cơ sở bán lẻ thuốc mình đang làm việc.
Trên thế giới và Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này mà chỉ dừng lại ở các báo cáo chưa chi tiết, cụ thể. Vì vậy chúng tôi quyết định làm đề tài: “Tổng quan các yếu tố ảnh hưởng từ đối thủ cạnh tranh tới kinh doanh thuốc của nhà thuốc” trên địa bàn quận Hà Đông với 2 mục tiêu: 1. Tổng quan các yếu tố đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến kinh doanh thuốc của nhà thuốc. Khảo sát, đánh giá các yếu tố đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến kinh doanh nhà thuốc trên địa bàn quận Hà Đông, Hà Nội.
Tổng quan chung 1. Tổng quan chung về mạng lưới bán lẻ thuốc tại Việt Nam 1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến nội dung nghiên cứu Thuốc: là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người người bao gồm thuốc Hóa Dược, thuốc Dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm [19]. Hành nghề Dược: là việc sử dụng trình độ chuyên môn của cá nhân để kinh doanh dược và hoạt động dược lâm sàng [28].
Cơ sở bán lẻ thuốc: gồm có Nhà thuốc, Quầy thuốc, Đại lý bán thuốc của doanh nghiệp và Tủ thuốc của Trạm y tế xã [28]. Hành nghề y, dược tư nhân: là việc cá nhân hoặc tổ chức đăng ký để thực hiện khám bệnh chữa bệnh, kinh doanh dược, vắc xin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị y tế theo quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật có liên quan [2]. Cơ sở y, dược tư nhân: là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và quản lý, điều hành [28]. Thực hành tốt nhà thuốc: Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, có hiệu quả là một trong hai mục tiêu cơ bản của Chính sách Quốc gia về thuốc của Việt Nam.
Mọi nguồn thuốc sản xuất trong nước hay nhập khẩu đến được tay người sử dụng hầu hết đều trực tiếp qua hoạt động của cơ sở bán lẻ. “Thực hành tốt nhà thuốc” (Good Pharmacy Practice, viết tắt: GPP) là văn bản đưa ra các nguyên tắc, tiêu chuẩn cơ bản trong thực hành nghề nghiệp tại nhà thuốc của Dược sỹ và nhân sự Dược trên cơ sở tự nguyện tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức và chuyên môn ở mức cao hơn những yêu cầu pháp lý tối thiểu [3]. Tiếp cận thuốc: là một khái niệm đa chiều. Các phương diện của tiếp cận thuốc bao gồm sự tiếp cận thuốc về địa lý, tính sẵn có, khả năng chi trả, và sự chấp nhận của người dân.
Như vậy tiếp cận thuốc là khả năng mà người cần thuốc có thể mua được hoặc nhận được thuốc để chữa bệnh, phòng bệnh. Khi nơi bán thuốc hoặc cấp phát thuốc quá xa, người dân khó có thể có được thuốc cho dù ở đó đủ thuốc có nghĩa là khả năng tiếp cận thấp [25]. Khi nơi bán hoặc cấp phát thuốc tuy ở gần, người dân có thể đến dễ dàng nhưng vì giá quá đắt hoặc không đủ loại thuốc hoặc thái 2 độ người bán, người cấp thuốc gây khó dễ khiến người dân khó chấp nhận cũng có nghĩa là khả năng tiếp cận thấp [28]. Khái niệm về bán lẻ hàng hóa: [28] − Tiếp cận góc độ khoa học kỹ thuật - công nghệ: Bán lẻ hàng hóa là một tổ hợp các hoạt động công nghệ, dịch vụ phức tạp được tính từ khi hàng hóa được nhập vào doanh nghiệp bán lẻ, hàng hóa được chuyển giao danh nghĩa cho người tiêu dùng cuối cùng, biến giá trị cá biệt của hàng hóa thành giá trị xã hội, biến giá trị sử dụng tiềm năng thành giá trị thực hiện của hàng hóa.
− Tiếp cận góc độ kinh tế: Bán lẻ là bán hàng hóa dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng làm thay đổi giá trị hàng hóa từ hàng sang tiền nhằm mục đích thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng và thực hiện hiệu quả trong quá trình bán hàng. − Tiếp cận ở góc độ Marketing: Hành vi bán lẻ là bộ phận kết thúc về cơ bản của quá trình Marketing, trong đó các chức năng của người bán thường là một cửa hàng, một cơ sở dịch vụ và người mua, người tiêu dùng chủ yếu được trao đổi hàng hóa và dịch vụ kinh tế nhằm mục đích cho người tiêu dùng trực tiếp của cá nhân, gia đình hoặc nhóm tổ chức xã hội [25]. Mô hình mạng lưới cung ứng thuốc hiện nay Mạng lưới cung ứng thuốc hiện nay có sự tham gia của 2 hệ thống bao gồm: “Hệ Thống Dược Nhà Nước” và “Hệ Thống Dược Tư Nhân”. Trong đó các doanh nghiệp Nhà nước (hoặc các doanh nghiệp Nhà nước mới thực hiện cổ phần hóa) vẫn giữ vai trò chủ đạo.
Đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người và biển đảo những nơi mà hoạt động Dược tư nhân hầu như chưa phát triển. Với phương thức vừa đảm bảo lợi nhuận kinh tế để kinh doanh, vừa làm nghĩa vụ công ích, cho dù phải bù lỗ để phục vụ người dân ở những vùng xa xôi, nhiều doanh nghiệp đã phát triển mạng lưới sâu rộng tới các xã. Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn nhưng các doanh nghiệp vẫn đảm bảo đủ nhu cầu thuốc thiết yếu cho nhân dân, đủ cơ số thuốc dự trữ cho bệnh dịch, thiên tai, lũ lụt [25],[13] 3 Hình 1. Mô hình mạng lưới cung ứng thuốc tại Việt Nam 1.
Vị trí, vai trò của các cơ sở bán lẻ thuốc 4 Sức khỏe luôn là vốn tất yếu của con người. Từ ngàn xưa đến nay, thuốc phòng và chữa bệnh đã trở thành nhu cầu không thể thiếu của con người. Thuốc đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và nói rộng hơn là một trong những yếu tố chủ yếu nhằm đảm bảo mục tiêu sức khỏe của mọi người. Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các nhu cầu về chăm sóc sức khỏe ngày càng cao.
Việc ra đời và phát triển mạnh mẽ của các cơ sở bán lẻ thuốc đã góp phần không nhỏ trong công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân. Việc đảm bảo cung ứng thuốc đáp ứng nhu cầu điều trị là một nhiệm vụ chủ yếu và hàng đầu của toàn ngành Dược, trong đó các CSBL thuốc chính là một thành phần làm nhiệm vụ cung ứng bảo đảm nhu cầu thuốc. Các nhà thuốc, quầy thuốc, đại lý bán thuốc và tủ thuốc của trạm y tế là đầu mối trực tiếp đưa thuốc đến cộng đồng. Mọi nguồn thuốc sản xuất trong nước hay nhập khẩu đến được tay người sử dụng hầu hết đều trực tiếp qua hoạt động của các CSBL thuốc.
Khi nền kinh tế nước ta chuyển từ chế độ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, mạng lưới bán lẻ thuốc có điều kiện hình thành, mở rộng và phát triển. Nhờ đó người dân có thể dễ dàng tiếp cận với các loại thuốc theo yêu cầu, nhanh chóng đáp ứng nhu cầu khám bệnh và chữa bệnh. Với chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu, các CSBL đã tập trung cung ứng thuốc thiết yếu cho nhân dân mọi lúc, mọi nơi, đặc biệt là ở vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc ít người. Điều đó góp phần quan trọng vào sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho người dân.
Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn có hiệu quả là một trong hai mục tiêu cơ bản của Chính sách Quốc gia về thuốc của Việt Nam. Thực tế trình độ hiểu biết của người dân về thuốc, sử dụng thuốc và các vấn đề liên quan đến CSSK còn hạn chế, đồng thời người dân lại có thói quen tự mua thuốc chữa bệnh mà không cần sự thăm khám và kê đơn của bác sỹ. Chính vì những lý do này mà vai trò của dược sĩ tại các CSBL rất là quan trọng, từ việc cung cấp thông tin thuốc cần thiết cho đến tư vấn sử dụng thuốc đầy đủ, đúng liều đúng thời gian để người dân có thể tự điều trị và nâng cao sức khỏe. Các mô hình bán lẻ thuốc 5 Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về địa bàn được mở cơ sở bán lẻ thuốc theo các hình thức quầy thuốc, đại lý bán thuốc của doanh nghiệp và tủ thuốc của trạm y tế phù hợp với điều kiện kinh tế 1.
Cơ sở bán lẻ thuốc gồm có: a) Nhà thuốc; b) Quầy thuốc; c) Cơ sở chuyên bán lẻ dược liệu, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền; d) Tủ thuốc của trạm y tế.