CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực 1. Nhân lực và nguồn nhân lực 1.
Nhân lực Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động” (Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu, 2008) Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Thể lực là sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc,tình trạng sức khỏe của từng con người,mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế.Thể lực của con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác và giới tính. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách.
của từng con người. Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con người là không bao giờ thiếu hoặc lãng quên và có thể nói như đã khai thác gần đến mức cạn kiệt. Sự khai thác các tiềm năng về trí lực của con 4 người còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con người. Theo đó có thể hiểu: Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm 80 của thế kỷ XX với ý nghĩa là nguồn lực con người, phản ánh sự đánh giá lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” thể hiện sự công nhận của phương thức quản lý mới trong việc sử dụng nguồn lực con người. Theo Liên hợp quốc thì: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đồng”. Theo Nguyễn Tiệp trong giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội thì: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội”.
(Nguyễn Tiệp, 2008) Dưới góc độ kinh tế chính trị thì nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. 5 Tuy có những định nghĩa khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận, nhưng các định nghĩa về nguồn nhân lực đều đề cập đến nội dung chính là: - Số lượng nguồn nhân lực, trả lời cho câu hỏi là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong, bao gồm nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động; và các yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân. - Chất lượng nhân lực, là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, năng lực thẩm mỹ,.
của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. - Cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: Cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi… Cơ cấu nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó có một tỷ lệ nhất định nhân lực.
Tóm lại, nguồn nhân lực là khái nhiệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. Phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong mỗi tổ chức, đây có thể coi là điều kiện tiên quyết đến sự tồn tại và phát triển mỗi tổ chức, giúp tổ chức có thế đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh hiện nay. 6 Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Trước hết, phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động học tập được tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người lao động.
Các hoạt động đó có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tuỳ vào mục tiêu học tập; và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho người lao động theo hướng đi lên, tức là nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề nghiệp của họ. Như vậy, xét về nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển. - Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai. - Đào tạo: được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình.
Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. - Phát triển: là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ người sử dụng lao động là quá trình tạo động lực lao động năng động và có kỹ năng sử dụng chúng có hiệu qủa. Xét từ góc độ cá nhân là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu nhập.
Một cách rõ ràng hơn, có thể nói phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm 7 nâng cao và hiểu biết, khuyến khích tốt hơn cho nhu cầu sản xuất. Quá trình có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm, trong khi đó chế độ dinh dưỡng quyết đinh thể lực đồng thời chăm sóc dinh dưỡng và y tế cũng đóng vai trò quan trọng. Như vậy phát triển nguồn nhân lực bao gồm các quá trình phát triển giáo dục, tiếp thu kinhnghiệm, tăng cường thể lực, kế hoạch hoá dân số, tăng nguồn vốn xã hội, nhờ quá trình khuyến khích hoặc tối ưu hoá sự đóng góp của các quá trình đã nói trên vào quả trình sản xuất, chẳng hạn như quá trình sử dụng lao động, khuyến khích hiệu ứng lan tỏa kiến thức trong nhân dân. Phát triển kiến thức từ góc độ làm chính sách là một giải pháp phân phối hơn là tái phân phối.
Vị trí nguồn nhân lực, quản trị và phát triển nguồn nhân lực 1. Vị trí nguồn nhân lực vàvai trò của đào tạo phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nguồn nhân lực quyết định đến sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có nguồn nhân lực chất lượng cao, có đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật lành nghề, được quan tâm đào tạo phát triển theo đúng mục tiêu, chiến lược sản xuất kinh doanh thì sẽ có nhiều cơ hội thành công.
Cơ cấu nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là yếu tố rất quan trọng: - Đội ngũ lãnh đạo là những người đứng đầu doanh nghiệp, chịu trách nhiệm điều hành doanh nghiệp phát triển theo đúng mục tiêu chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo doanh nghiệp hoạt động và phát triển, đồng thời đưa ra các chủ trương, các quyết định nhằm kết hợp hài hòa giữa mục tiêu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp với người lao động. - Đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp là cán bộ của các phòng ban chức năng tham mưu cho lãnh đạo doanh nghiệp trong các lĩnh vực chuyên 8 môn nghiệp vụ đảm bảo các hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thường theo đúng mục tiêu. - Đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật chính là những người trực tiếp lao động sản xuất, hiện thực hóa các mục tiêu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp: Góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả lao động.
Thông qua đào tạo người lao động hoàn thiện các kỹ năng làm việc, qua đó giảm bớt các thao tác thừa, không đúng quy trình. Đào tạo giúp người lao động cập nhật các kỹ năng và kiến thức mới, những phương pháp làm việc mới. cải thiện kiến thức kỹ thuật về công nghệ mới, tạo điều kiện cho người lao động thích nghi với công nghệ mowisk hi doanh nghiệp áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao năng suất lao dộng và chất lượng sản phẩm.