chương 1, tác giả trình bày về đề tài nghiên cứu, xác định các mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể của đề tài. Đồng thời, tác giả đưa ra các câu hỏi nghiên cứu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Ở đây, tác giả cũng xác định đối tượng và phạm vi của NC được thực hiện trong đề tài và trình vài những phương pháp được tác giả sử dụng để phân tích cho toàn bộ quá trình nghiên cứu của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2.
Khái niệm về thực phẩm hữu cơ Theo Honkanen, Verplanken và Olsen (2006) "Thực phẩm hữu cơ của người dân được hiểu là những loại thực phẩm được sản xuất mà không sử dụng thuộc trừ sâu, thuốc kháng sinh, phân bón vô cơ và hormone tăng trưởng" Theo Winter vad Davis (2006) "Thực phẩm hữu cơ là những thực phẩm được sử dụng hệ thống sinh trưởng tự nhiên để kích thích chu kỳ sinh học và giảm ô nhiễm, đồng thời cung cấp môi trường nuôi trồng an toàn và lành mạnh cho gia súc, cây trồng." Theo Essoussi và Zahaf (2008) "Thực phẩm hữu cơ là những loại thực phẩm không chứ chất độc hại và được sản xuất bằng các kỹ thuật nuôi trồng an toàn, thực phẩm được nuôi trồng và sản xuất mà không sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng." Theo Marwa và Scott (2013) "Thực phẩm hữu cơ là các loại thực phẩm có nguồn gốc tự nhiên không chứa hóa chất nhân tạo như phân bón, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, kháng sinh và sinh vật biến đổi gen. Ngoài ra, thực phẩm hữu cơ không bị chiếu xạ." Tóm lại, TPHC được hiểu là những loại thực phẩm từ việc trồng trọt và chăn nuôi với hệ thống nuôi trồng, sinh trưởng tự nhiên mà không có sự can thiệp của các loại phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng, hormone sinh trưởng, chất tăng trọng,… 7 2. Khái niệm ý định sử dụng Theo Ajzen (1991) "Ý định là hành động có thể xảy ra của con người và được chi phối bởi 3 yếu tố: niềm tin và hành vi, niềm tin và chuẩn mực, niềm tin và khả năng kiểm soát. Do đó, niềm tin càng lớn thì con người càng có nhiều khả năng hành động." Theo Elbeck (2008) cho rằng "Ý định tiêu dùng là sự sẵn lòng chi trả cho một sản phẩm mà con người có thể chi trả để thoả mãn những nhu cầu, mong muốn của bản thân." Qua đó có thể thấy rằng, ý định tiêu dùng là sự sẵn sàng chi trả một khoản tiền nhằm thoả mãn những nhu cầu của bản thân người tiêu dùng và ý định này sẽ dẫn đến hành động khi thoả mãn được các yếu tố về niềm tin với hành vi, chuẩn mực và khả năng kiểm soát của con người.
Lợi ích của thực phẩm hữu cơ Theo Lawrence Robinson và Jeanne Segal, Ph. (2023) "Thực phẩm hữu cơ thường có nhiều chất dinh dưỡng có lợi hơn, chẳng hạn như chất chống oxy hóa, so với thực phẩm được trồng thông thường và những người bị dị ứng với thực phẩm, hóa chất hoặc chất bảo quản có thể thấy các triệu chứng của họ giảm bớt hoặc biến mất khi họ chỉ ăn thực phẩm hữu cơ. Sản phẩm hữu cơ chứa ít thuốc trừ sâu hơn. Các hóa chất như thuốc diệt nấm tổng hợp, thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp thông thường và dư lượng vẫn còn trên (và trong) thực phẩm chúng ta ăn.
Thực phẩm hữu cơ thường tươi hơn vì nó không chứa chất bảo quản giúp giữ được lâu hơn. Canh tác hữu cơ có xu hướng tốt hơn cho môi trường. Thực hành canh tác hữu cơ có thể làm giảm ô nhiễm, bảo tồn nước, giảm xói mòn đất, tăng độ phì nhiêu của đất và sử dụng ít năng lượng hơn. Việc canh tác không có thuốc trừ sâu tổng hợp cũng tốt 8 hơn cho các loài chim và động vật gần đó cũng như những người sống gần các trang trại.
Động vật được nuôi hữu cơ không được cho dùng thuốc kháng sinh, hormone tăng trưởng hoặc sản phẩm phụ từ động vật được cho ăn. Động vật được nuôi theo phương pháp hữu cơ có xu hướng được cung cấp nhiều không gian hơn để di chuyển và tiếp cận với hoạt động ngoài trời, điều này giúp chúng khỏe mạnh. Thịt và sữa hữu cơ có thể giàu chất dinh dưỡng nhất định. Kết quả của một NC ở Châu Âu năm 2016 cho thấy mức độ của một số chất dinh dưỡng, bao gồm axit béo omega-3, trong thịt và sữa hữu cơ cao hơn tới 50% so với các phiên bản được nuôi thông thường.
Thực phẩm hữu cơ không có sinh vật biến đổi gen (GMO) hoặc thực phẩm biến đổi gen (GE) là thực vật có DN đã bị thay đổi theo những cách không thể xảy ra trong tự nhiên hoặc trong quá trình lai tạo truyền thống, phổ biến nhất là để kháng thuốc trừ sâu hoặc tạo ra thuốc trừ sâu. LƢỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Các nghiên cứu trong nƣớc Nguyễn Thảo Nguyên và Lê Thị Trang (2020) đã cùng nhau tiến hành NC đề tài về "Yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh" với 312 đối tượng khảo sát hợp lệ là những người dân đang sinh sống và làm việc trên 18 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã tiến hành khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên người dân tại các trung tâm mua sắm, đồng thời kết hợp phương pháp kiểm định thang đo bằng phần mềm SPSS 20.0 để kiểm tra độ tin cậy Cronbach's lpha, nhân tố khám phá EF và hồi quy đa biến.
Mô hình được tác giả sử dụng gồm các biến độc lập là an toàn thực phẩm, ý thức về sức khoẻ, ý thức về môi trường, chất lượng và giá cả. Sau quá trình nghiên cứu, tác giả đã 9 đưa ra kết luận rằng người dùng tại TPHCM rất quan tâm đến an toàn thực phẩm, sức khoẻ, chất lượng sản phẩm, môi trường và giá cả trong ý định mua thực phẩm hữu cơ. "Ý định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng trẻ: Vai trò của niềm tin" đề tài được tác giả Nguyễn Kim Nam (2015) tiến hàn khảo sát trên 459 người tiêu dùng là cac sinh viên của trường cao đẳng, đại học tại TPHCM. Nghiên cứu sử dụng thang đi Likert và phần mềm SPSS 20.0 để khảo sát số liệu và thành lập mô hình với các biến độc lập gồm thái độ, chuẩn mực chủ quan, hành vi cảm nhận và tính hữu hiệu ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng thực phẩm hữu cơ.
Sau quá trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra được kết luận rằng khi NTD có niềm tin cao thì tính hữu hiệu, thái độ, hành vi cảm nhận có ảnh hưởng tích cực đến ý định mua. Còn với những người tiêu dùng có niềm tin thấp thì ý định mua của NTD không bị ảnh hưởng bởi thái độ, kiểm soát hành vi cảm nhận, nhận thức tính hữu hiệu. Bên cạnh đó, chuẩn mực chủ quan tác động tích cực đến ý định hành vi của người tiêu dùng cho dù người đó nắm giữ niềm tin cao hay thấp. Nhóm tác giả gồm Huỳnh Đình Lệ Thu, Nguyễn Thị Minh Thư và Hà Nam Khánh Giao (2020) đã tiến hành thực hiện tài với chủ đề "Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng tại Tp.
Long Xuyên" với phạm vi khảo sát là người tiêu dùng trên 18 tuổi và có nghe nói đến thực phẩm hữu cơ. Dữ liệu thu thập từ 238 người hợp lệ và dùng phương pháo phân tích EF và cấu trúc tuyến tính SEM để đánh gái độ tin cậy của thang đo. Nghiên cứu được hình thành với mô hình gồm các biến khảo sát là thái độ, chuẩn chủ quan, niềm tin, thông tin minh bạch và kiến thức về thực phẩm hữu cơ. Sau quá trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu cho thấy thái độ và niềm tin ảnh hưởng cùng chiều đến ý định mua thực phẩm của người dân.
Bên cạnh đó, những thông tin minh bạch và kiến thức không ảnh hưởng đến thái độ tích cực của người tiêu dùng đến thực phẩm hữu cơ. 10 Nhóm tác giả gồm Luong Thu Thuy, Tran Thi Phuong Dieu, Nguyen Dinh Hoan, Vu Viet Ninh và Tran Thi Thuy Nga (2021) đã cùng nhau NC đề tài "Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm nông nghiệp hữu cơ của người Việt Nam". Cuộc khảo sát được thực hiện trực tiếp với người dân Việt Nam, có 1125 cuộc khảo sát nhưng chỉ nhận được 758 phiếu khảo sát hợp lệ và nghiên cứu dựa trên phần mềm Smart-PLS để phân tích các biến của mô hình gồm giá trị cảm nhận, sự tận tâm, cảm xúc, sự hướng ngoại và sự trải nghiệm. Trong đó, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng giá trị cảm nhận, sự tận tâm, cảm xúc, sự hướng ngoài và sự trải nghiệm có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng thực phẩm nông nghiệp hữu cơ của người Việt Nam.
Các nghiên cứu nƣớc ngoài "Các yếu tố quyết định thúc đẩy tiêu thụ thực phẩm hữu cơ: Nguồn gốc ý đinh của người tiêu dùng" được hai tác giả Chih-Ching Teng và Yu-Mei Wang (2015) cùng nhau thực hiện nghiên cứu. Đề tài được thực hiện trên phạm vi 3 thành phố lớn của Đài Loan với 693 câu trả lời hợp lệ được thu thập từ 850 bảng câu hỏi thông qua phỏng vấn trực tiếp tại siêu thị lớn và các của hàng thực phẩm tốt cho sức khoẻ. Đề tài được tác giả sử dụng mô hình phương trình cấu trúc để tìm ra các yếu tố quyết định thúc đẩy tiêu thụ TPHC với kết quả được tác giả đưa ra sau quá trình phân tích là sự tin tưởng đóng vai trò tiền đề của thái độ làm cho người dân lựa chọn TPHC. Thái độ và tiêu chuẩn chủ quan ảnh hưởng đáng kể đến tiêu dùng TPHC.
Bên cạnh đó thì kiến thức có tác động không đáng kể đến thái độ đối với TPHC. K (2019) đã cùng nhau nghiên cứu đề tài "Các yếu tố tác động đến ý định mua thực phẩm hữu cơ". Bài nghiên cứu đã được thực hiện trên tổng 206 bảng câu hỏi hợp lệ được thu thập trên nền tảng trực tuyến tại Indonesia và được phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc (SEM). Sau quá trình nghiên cứu và phân tích, tác giả đã đưa ra kết quả nghiên cứu là kiến thức, nhận thức ca nhân không ảnh hưởng đáng kể đến thái độ đối với thực phẩm hữu cơ.