CHƯƠNG 1 Chương này tác giả trình bày những nội dung về: Lý do chọn đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Ý nghĩa của đề tài và Kết cấu của khoá luận 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp Có rất nhiều định nghĩa về khởi nghiệp từ rất nhiều tác giả khác nhau, tuy nhiên chúng đề thống nhất về mặt nội hàm. Theo thời gian với cách tư duy của các nhà nghiên cứu, định nghĩa này cũng dần có những sự thay đổi. Định nghĩa khởi nghiệp được giải nghĩa là bắt đầu khởi nghiệp theo từ điển Tiếng Việt. Thuật ngữ này trong tiếng Anh được gọi là Entrepreneurship.
Theo Richard (1734), khởi nghiệp được hiểu là một cá nhân tự mình xây dựng nên và điều hành một doanh nghiệp dưới bất kì hình thức nào. Song định nghĩa về khởi nghiệp dần được hoàn thiện và rõ ràng hơn ở đầu thế kỷ 20 và được diễn giải là quá trình tạo dựng một tổ chức kinh doanh và người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó. Theo Stevenson (1989) lại cho rằng khởi nghiệp là "quá trình theo đó các cá nhân nhận thức rõ ràng về sự sở hữu doanh nghiệp, phát triển ý tưởng cho việc kinh doanh, tìm hiểu quá trình trở thành một doanh nhân và thực hiện việc bắt đầu và phát triển của một doanh nghiệp". Hay Penrose (1959), Stevenson và Jarillo (1990) cho rằng, quá trình mà cá nhân xác định rõ ràng mục đích và theo đuổi nó, nắm bắt những cơ hội mới trong nền kinh tế chính để vận hành bộ máy tổ chức là hoạt động tự làm chủ doanh nghiệp.
Ở một phương diện khác, Cole (1949) định nghĩa khởi nghiệp là một hoạt động có mục đích để khởi xướng, duy trì và làm mạnh thêm xu hướng lợi nhuận của một doanh nghiệp. Theo góc nhìn của (Cable,2010) khởi nghiệp là những dự án kinh doanh mang tính sáng tạo, bao hàm cả rủi ro và sự tăng trưởng cao, thường đòi hỏi một khoản tài trợ lớn từ bên ngoài. Thông thường trong giai đoạn đầu tiên, vốn khởi nghiệp bắt nguồn từ nguồn tích lũy cá nhân (Cole, 2009). Theo (Alden, 2011), nguồn kinh phí của những người bắt đầu khởi nghiệp cũng có thể đến từ sự ủng hộ của gia đình hoặc những người trong cuộc.
Theo tổ chức Global Entrepreneurship Monitor (GEM), một doanh nghiệp khi vừa thành lập sẽ trải qua 3 giai đoạn cơ bản: từ việc hình thành-phát triển ý tưởng đến bắt tay 10 vào thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp. Bên cạnh đó, quan điểm của các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động lại cho rằng khởi nghiệp là sự lựa chọn giữa việc đi làm thuê và tự tạo việc làm cho mình. Vì vậy, có thể nói khởi nghiệp là sự chấp nhận rủi ro để tự làm chủ tạo lập một doanh nghiệp mới và thuê người khác làm việc cho mình. Như vậy, khởi nghiệp là việc một cá nhân tận dụng cơ hội thị trường và năng lực của bản thân để tạo dựng một công việc kinh doanh mới.
Liên quan đến ý định bao gồm có 4 yếu tố khác nhau: tình trạng (situation), mục tiêu (target), thời điểm (time), hành vi (behavior). Việc cảm nhận vấn đề trước khi đi đến thực hiện một hành vi bất kì vô cùng quan trọng, bởi nó quyết định cá nhân có thực hiện hành vi đó hay là không. Ý định đại diện cho mức độ cam kết về hành vi sẽ thực hiện trong tương lai (Krueger, 1993). Thông qua nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta cho rằng, ý định chính là tiền để của hành vi dự định.
Sự cố gắng nỗ lực, quyết tâm, ý chí bền bỉ, kinh nghiệm tích lũy cá nhân cùng với việc đánh giá tốt các yếu tố môi trường là những nền tảng tốt để vun đắp những ý định. Ý định càng rõ ràng và rành mạch chính thì động lực để cá nhân dám bước ra khỏi vỏ bọc và trở nên mạnh mẽ quyết đoán, dám nghĩ và dám làm những điều mình mơ ước. Ý định khởi nghiệp được hiểu chung là việc một cá nhân bắt đầu làm chủ một doanh nghiệp, từ việc hình thành, phát triển ý tưởng kinh doanh, tiến hành lập kế hoạch và triển khai kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Gupta & Bhawe, 2007). Bắt nguồn từ việc định hướng và cung cấp tri thức giá trị từ các chương trình giáo dục và từ những người đạo tạo, ý định khởi nghiệp của sinh viên dần được hình thành và phát triển (Schwarz & cs, 2009).
Cùng với những trải nghiệm của bản thân, tận dụng các nguồn lực vốn có, nhạy bén nắm bắt cơ hội ngoài thị trường, bất chấp và không ngại những khó khăn thử thách là những yếu tố thôi thúc họ phát triển sự nghiệp kinh doanh của mình, trở thành người quản lý và tạo ra các giá trị bền vững cho chính họ và xã hội.2 Người khởi nghiệp và tiềm năng người khởi nghiệp Trong từ điển, người khởi nghiệp được định nghĩa là là người sáng lập ra một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu cung ứng một sản phẩm hay dịch vụ cho một thị trường bất kì. Theo Knight (1921), người khởi nghiệp sẽ là người sẽ tìm ra mấu chốt hay nói cách khác là thị trường ngách dựa trên sự thay đổi và không chắc chắn của thị trường. Theo nghiên cứu của Jhonson (2005) thì người khởi nghiệp là những người luôn cố gắng 11 nắm bắt được nhu cầu của khách hàng về trải nghiệm sản phẩm. Họ xem đó là cơ hội đổi mới và cải tiến sản phẩm, vừa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, vừa kiếm được lợi nhuận.
Riêng cá nhân McClelland (1961) cho rằng, người khởi nghiệp là người có nhu cầu cao về sự thành công và tạo ra thành tựu, là những người dám nghĩ dám làm, dám thay đổi và luôn chủ động nắm bắt, khai thác những cơ hội ngoài thị trường, biến nguồn tài nguyên sẵn có thành nguồn tài nguyên có thể khai thác được. MacMillan và Katz (1992) lại định nghĩa người khởi nghiệp là người kiếm tiền bằng cách bắt đầu hoặc quản trị công việc kinh doanh có tính rủi ro. Gần đây nhất Ronald May (2013) đã chỉ ra trong nghiên cứu của ông rằng người khởi nghiệp là người “thương mại hóa” sự sáng tạo của mình. Những người có tiềm năng khởi nghiệp kinh doanh là những người biết nắm bắt các cơ hội kinh doanh mà họ nhìn nhận được, họ còn là những người thích mạo hiểm và thách thức, chấp nhận sự rủi ro và dám đương đầu nếu thất bại.
Krueger và Brazeal (1994) cho rằng các doanh nhân tiềm năng là những người sẽ chấp nhận rủi ro và tiến hành các hoạt động khi họ thấy tín hiệu của cơ hội kinh doanh, không để bỏ lỡ thời cơ vàng. Lúc đó, họ cảm thấy tự tin và khả năng thành công cao với việc khởi nghiệp. Theo Begley và Tan (2001) những cá nhân có tiềm năng khởi nghiệp là những người chưa từng khởi nghiệp và họ khao khát và có niềm tin vào khả năng thành công khi khởi nghiệp. Từ những định nghĩa thông qua các nghiên cứu trước đây, có thể đúc kết được rằng, người khởi nghiệp là những người có tố chất: sáng tạo, mạo hiểm, quyết đoán, nhanh nhẹn và nhạy bén trong việc nắm bắt cơ hội và sẵn sàng chấp nhận rủi ro.
Tuy các định nghĩa trên khác nhau nhưng đều thống nhất rằng khởi nghiệp cần có sự chuẩn bị từ trước chứ không hoàn toàn là bẩm sinh. Nhưng người khởi nghiệp họ thích tự mình làm chủ và lèo lái sự nghiệp kinh doanh dựa trên những kế hoạch đã được lập ra và hưởng mọi lợi nhuận thu được thay vì đi làm công ăn lương cho người khác. Khởi nghiệp gắn liền với việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội là công việc có ý nghĩa đối với người thích thách thức và là cơ hội phát huy tính sáng tạo. Họ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế nước nhà bởi những sáng kiến vượt trội và những kỹ năng vận hành nền kinh tế.
Tuy nhiên, ngoài năng lực và nguồn vốn tự thân cũng chưa đủ để 12 thành công mà cần phải có những chính sách hỗ trợ kinh tế thuận lợi và phù hợp, một chiến lược ổn định và sáng suốt. Nếu một cá nhân chỉ mong muốn khởi nghiệp, tỉ lệ khởi nghiệp thành công sẽ không cao vì họ không có sự tự tin và khả năng khởi nghiệp. Ngược lại, họ có sự tin tưởng vào năng lực khởi nghiệp của bản thân thì chưa chắc các hoạt động khởi nghiệp sẽ được thực hiện vì họ không có ý định, mong muốn và đam mê. Chính vì thế, người có tiềm năng khởi nghiệp phải đồng thời vừa có sự tự tin vừa có ý định và mong muốn rõ ràng.3 Sinh viên khởi nghiệp Khởi nghiệp của sinh viên là môt hoạt động mà thông qua đó, sinh viên học vận dụng các kiến thức cũng như kỹ năng cần thiết, nắm bắt nguồn cơ để trở thành chủ của một doanh nghiệp ở bất kỳ một lĩnh vực mà họ yêu thích.
Không chỉ khởi nghiệp bằng vốn tự thân, mà hoạt động này có thể được hình thành dưới sự hỗ trợ từ phía nhà trường thông qua quá trình học tập và tạo lập kế hoạch kinh doanh, làm việc với các dianh nghiệp địa phương và các nguồn lực khác ngoài cộng đồng, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào để hình thành nên một doanh nghiệp khi sinh viên còn đang trong giai đoạn học tập đã trở thành chủ doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của Schnurr và Newing (1997), khởi nghiệp của sinh viên còn được định hiểu là ứng dụng thực tế các phẩm chất doanh nhân của sinh viên, ví dụ như năng động, đổi mới, sáng tạo và thích mạo hiểm trong môi trường làm việc, vận dụng các kiến thức, kỹ năng, tố chất cần thiết để trở nên thành công trong môi trường và văn khóa khởi nghiệp đó. Hoạt động khởi nghiệp của sinh viên bao gồm một số đặc điểm sau: Thứ nhất, hầu hết các sinh viên tham gia khởi nghiệp là muốn thể hiện mình, thử sức trong kinh doanh mà chưa nghĩ kĩ về ngành nghề kinh doanh cũng như định hướng phát triển trong tương lai. Thứ hai, khó khăn chung của những người khởi nghiệp nói chung trong đó có sinh viên bao gồm nguồn vốn, chưa có kinh nghiệm, chưa có định hướng cũng như kế hoạch 13 rõ ràng trước những phản ứng và thay đổi của thị trường.
Đa số họ muốn khởi nghiệp với mục đích thử sức và va chạm nhiều hơn, khả năng ứng phó với khó khăn cũng còn kém.