Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên và học viên cao học trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh trong bối cảnh đại dịch covid 19

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên và học viên cao học tại trường đại học công nghiệp TP.HCM trong bối cảnh COVID-19.

Chuyên ngành

Marketing

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

96
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu chung

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa của đề tài

1.7. Kết cấu của khoá luận

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Các khái niệm liên quan

2.1.1. Khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp

2.1.2. Người khởi nghiệp và tiềm năng người khởi nghiệp

2.1.3. Sinh viên khởi nghiệp

2.2. Các lý thuyết về hành vi lựa chọn của người tiêu dùng

2.2.1. Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action)

2.2.2. Thuyết hành vi có kế hoạch TPB (Theory of Planned Behaviour)

2.3. Tổng quan các nghiên cứu liên quan

2.3.1. Các nghiên cứu nước ngoài

2.3.2. Các nghiên cứu trong nước

2.4. Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu

2.4.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.4.2. Giả thuyết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Xây dựng bảng hỏi

3.3. Phương pháp xử lý số liệu

3.3.1. Thống kê mô tả và phân tích tương quan

3.3.2. Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

3.3.3. Phân tích nhân tố EFA

3.3.4. Phân tích nhân tố khẳng định (CFA)

3.3.5. Kiểm định giả thuyết mô hình bằng SEM

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

4.1. Phân tích thống kê mô tả

4.2. Phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.4. Phân tích nhân tố Khẳng định CFA

4.5. Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Đề xuất hàm ý quản trị

5.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về yếu tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp của sinh viên

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trở thành một chủ đề nóng hổi. Nghiên cứu này nhằm phân tích các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Trường Đại học Công Nghiệp TP.HCM. Đại dịch đã tạo ra nhiều thách thức nhưng cũng mở ra cơ hội cho những ý tưởng khởi nghiệp mới. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp các trường học và tổ chức hỗ trợ sinh viên tốt hơn.

1.1. Tác động của Covid 19 đến khởi nghiệp của sinh viên

Đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi cách thức hoạt động của nhiều doanh nghiệp. Sinh viên cần nhận thức rõ về tác động của Covid-19 đến khởi nghiệp để có thể điều chỉnh kế hoạch kinh doanh của mình. Nhiều sinh viên đã phải đối mặt với khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốn và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

1.2. Xu hướng khởi nghiệp trong thời kỳ đại dịch

Trong thời kỳ đại dịch, xu hướng khởi nghiệp của sinh viên đã có sự thay đổi đáng kể. Nhiều sinh viên đã tìm kiếm các cơ hội mới trong lĩnh vực công nghệ và dịch vụ trực tuyến. Việc nắm bắt xu hướng khởi nghiệp sau Covid-19 sẽ giúp sinh viên có cái nhìn tổng quan hơn về thị trường.

II. Thách thức khởi nghiệp của sinh viên trong bối cảnh Covid 19

Khởi nghiệp trong thời kỳ Covid-19 không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức lớn. Các sinh viên phải đối mặt với nhiều vấn đề như thiếu vốn, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp và sự cạnh tranh gia tăng. Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết để sinh viên có thể thực hiện ý định khởi nghiệp của mình.

2.1. Thiếu vốn và nguồn lực

Một trong những thách thức lớn nhất mà sinh viên gặp phải là thiếu vốn và nguồn lực để khởi nghiệp. Nhiều sinh viên không có đủ tài chính để đầu tư vào ý tưởng của mình, điều này làm giảm khả năng thực hiện kế hoạch kinh doanh.

2.2. Thay đổi nhu cầu thị trường

Đại dịch đã làm thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng. Sinh viên cần phải nhanh chóng thích nghi với thay đổi nhu cầu thị trường để có thể phát triển sản phẩm và dịch vụ phù hợp với xu hướng mới.

III. Phương pháp nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên

Nghiên cứu này áp dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng để thu thập dữ liệu từ sinh viên, từ đó đưa ra các kết luận chính xác về tình hình khởi nghiệp trong bối cảnh Covid-19.

3.1. Lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB

Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được sử dụng để phân tích yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến khởi nghiệp. Theo TPB, ý định khởi nghiệp của sinh viên phụ thuộc vào thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức về khả năng khởi nghiệp.

3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng khảo sát trực tuyến với 380 sinh viên. Phương pháp này giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

IV. Kết quả nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng đại dịch Covid-19 có tác động lớn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Các yếu tố như nhận thức lợi ích và thái độ với việc khởi nghiệp có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên.

4.1. Nhận thức lợi ích của việc khởi nghiệp

Nghiên cứu chỉ ra rằng nhận thức lợi ích của việc khởi nghiệp là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Khi sinh viên nhận thức rõ về lợi ích, họ sẽ có động lực hơn để bắt tay vào khởi nghiệp.

4.2. Thái độ với việc khởi nghiệp

Thái độ tích cực đối với việc khởi nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng. Sinh viên có thái độ tích cực thường có xu hướng cao hơn trong việc thực hiện ý định khởi nghiệp của mình.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho khởi nghiệp sinh viên

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc hỗ trợ sinh viên trong khởi nghiệp là rất cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh Covid-19. Các trường đại học cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể để khuyến khích tinh thần khởi nghiệp của sinh viên.

5.1. Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp cho sinh viên

Các trường cần xây dựng chính sách hỗ trợ khởi nghiệp rõ ràng, bao gồm việc cung cấp nguồn vốn, đào tạo kỹ năng và kết nối với các nhà đầu tư.

5.2. Tương lai của khởi nghiệp sau Covid 19

Tương lai của khởi nghiệp sau Covid-19 sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng của sinh viên với những thay đổi trong môi trường kinh doanh. Việc nắm bắt xu hướng mới sẽ giúp sinh viên có cơ hội thành công cao hơn.

15/07/2025
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên và học viên cao học trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh trong bối cảnh đại dịch covid 19

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 Chương này tác giả trình bày những nội dung về: Lý do chọn đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Ý nghĩa của đề tài và Kết cấu của khoá luận 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp Có rất nhiều định nghĩa về khởi nghiệp từ rất nhiều tác giả khác nhau, tuy nhiên chúng đề thống nhất về mặt nội hàm. Theo thời gian với cách tư duy của các nhà nghiên cứu, định nghĩa này cũng dần có những sự thay đổi. Định nghĩa khởi nghiệp được giải nghĩa là bắt đầu khởi nghiệp theo từ điển Tiếng Việt. Thuật ngữ này trong tiếng Anh được gọi là Entrepreneurship.

Theo Richard (1734), khởi nghiệp được hiểu là một cá nhân tự mình xây dựng nên và điều hành một doanh nghiệp dưới bất kì hình thức nào. Song định nghĩa về khởi nghiệp dần được hoàn thiện và rõ ràng hơn ở đầu thế kỷ 20 và được diễn giải là quá trình tạo dựng một tổ chức kinh doanh và người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó. Theo Stevenson (1989) lại cho rằng khởi nghiệp là "quá trình theo đó các cá nhân nhận thức rõ ràng về sự sở hữu doanh nghiệp, phát triển ý tưởng cho việc kinh doanh, tìm hiểu quá trình trở thành một doanh nhân và thực hiện việc bắt đầu và phát triển của một doanh nghiệp". Hay Penrose (1959), Stevenson và Jarillo (1990) cho rằng, quá trình mà cá nhân xác định rõ ràng mục đích và theo đuổi nó, nắm bắt những cơ hội mới trong nền kinh tế chính để vận hành bộ máy tổ chức là hoạt động tự làm chủ doanh nghiệp.

Ở một phương diện khác, Cole (1949) định nghĩa khởi nghiệp là một hoạt động có mục đích để khởi xướng, duy trì và làm mạnh thêm xu hướng lợi nhuận của một doanh nghiệp. Theo góc nhìn của (Cable,2010) khởi nghiệp là những dự án kinh doanh mang tính sáng tạo, bao hàm cả rủi ro và sự tăng trưởng cao, thường đòi hỏi một khoản tài trợ lớn từ bên ngoài. Thông thường trong giai đoạn đầu tiên, vốn khởi nghiệp bắt nguồn từ nguồn tích lũy cá nhân (Cole, 2009). Theo (Alden, 2011), nguồn kinh phí của những người bắt đầu khởi nghiệp cũng có thể đến từ sự ủng hộ của gia đình hoặc những người trong cuộc.

Theo tổ chức Global Entrepreneurship Monitor (GEM), một doanh nghiệp khi vừa thành lập sẽ trải qua 3 giai đoạn cơ bản: từ việc hình thành-phát triển ý tưởng đến bắt tay 10 vào thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp. Bên cạnh đó, quan điểm của các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động lại cho rằng khởi nghiệp là sự lựa chọn giữa việc đi làm thuê và tự tạo việc làm cho mình. Vì vậy, có thể nói khởi nghiệp là sự chấp nhận rủi ro để tự làm chủ tạo lập một doanh nghiệp mới và thuê người khác làm việc cho mình. Như vậy, khởi nghiệp là việc một cá nhân tận dụng cơ hội thị trường và năng lực của bản thân để tạo dựng một công việc kinh doanh mới.

Liên quan đến ý định bao gồm có 4 yếu tố khác nhau: tình trạng (situation), mục tiêu (target), thời điểm (time), hành vi (behavior). Việc cảm nhận vấn đề trước khi đi đến thực hiện một hành vi bất kì vô cùng quan trọng, bởi nó quyết định cá nhân có thực hiện hành vi đó hay là không. Ý định đại diện cho mức độ cam kết về hành vi sẽ thực hiện trong tương lai (Krueger, 1993). Thông qua nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta cho rằng, ý định chính là tiền để của hành vi dự định.

Sự cố gắng nỗ lực, quyết tâm, ý chí bền bỉ, kinh nghiệm tích lũy cá nhân cùng với việc đánh giá tốt các yếu tố môi trường là những nền tảng tốt để vun đắp những ý định. Ý định càng rõ ràng và rành mạch chính thì động lực để cá nhân dám bước ra khỏi vỏ bọc và trở nên mạnh mẽ quyết đoán, dám nghĩ và dám làm những điều mình mơ ước. Ý định khởi nghiệp được hiểu chung là việc một cá nhân bắt đầu làm chủ một doanh nghiệp, từ việc hình thành, phát triển ý tưởng kinh doanh, tiến hành lập kế hoạch và triển khai kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Gupta & Bhawe, 2007). Bắt nguồn từ việc định hướng và cung cấp tri thức giá trị từ các chương trình giáo dục và từ những người đạo tạo, ý định khởi nghiệp của sinh viên dần được hình thành và phát triển (Schwarz & cs, 2009).

Cùng với những trải nghiệm của bản thân, tận dụng các nguồn lực vốn có, nhạy bén nắm bắt cơ hội ngoài thị trường, bất chấp và không ngại những khó khăn thử thách là những yếu tố thôi thúc họ phát triển sự nghiệp kinh doanh của mình, trở thành người quản lý và tạo ra các giá trị bền vững cho chính họ và xã hội.2 Người khởi nghiệp và tiềm năng người khởi nghiệp Trong từ điển, người khởi nghiệp được định nghĩa là là người sáng lập ra một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu cung ứng một sản phẩm hay dịch vụ cho một thị trường bất kì. Theo Knight (1921), người khởi nghiệp sẽ là người sẽ tìm ra mấu chốt hay nói cách khác là thị trường ngách dựa trên sự thay đổi và không chắc chắn của thị trường. Theo nghiên cứu của Jhonson (2005) thì người khởi nghiệp là những người luôn cố gắng 11 nắm bắt được nhu cầu của khách hàng về trải nghiệm sản phẩm. Họ xem đó là cơ hội đổi mới và cải tiến sản phẩm, vừa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, vừa kiếm được lợi nhuận.

Riêng cá nhân McClelland (1961) cho rằng, người khởi nghiệp là người có nhu cầu cao về sự thành công và tạo ra thành tựu, là những người dám nghĩ dám làm, dám thay đổi và luôn chủ động nắm bắt, khai thác những cơ hội ngoài thị trường, biến nguồn tài nguyên sẵn có thành nguồn tài nguyên có thể khai thác được. MacMillan và Katz (1992) lại định nghĩa người khởi nghiệp là người kiếm tiền bằng cách bắt đầu hoặc quản trị công việc kinh doanh có tính rủi ro. Gần đây nhất Ronald May (2013) đã chỉ ra trong nghiên cứu của ông rằng người khởi nghiệp là người “thương mại hóa” sự sáng tạo của mình. Những người có tiềm năng khởi nghiệp kinh doanh là những người biết nắm bắt các cơ hội kinh doanh mà họ nhìn nhận được, họ còn là những người thích mạo hiểm và thách thức, chấp nhận sự rủi ro và dám đương đầu nếu thất bại.

Krueger và Brazeal (1994) cho rằng các doanh nhân tiềm năng là những người sẽ chấp nhận rủi ro và tiến hành các hoạt động khi họ thấy tín hiệu của cơ hội kinh doanh, không để bỏ lỡ thời cơ vàng. Lúc đó, họ cảm thấy tự tin và khả năng thành công cao với việc khởi nghiệp. Theo Begley và Tan (2001) những cá nhân có tiềm năng khởi nghiệp là những người chưa từng khởi nghiệp và họ khao khát và có niềm tin vào khả năng thành công khi khởi nghiệp. Từ những định nghĩa thông qua các nghiên cứu trước đây, có thể đúc kết được rằng, người khởi nghiệp là những người có tố chất: sáng tạo, mạo hiểm, quyết đoán, nhanh nhẹn và nhạy bén trong việc nắm bắt cơ hội và sẵn sàng chấp nhận rủi ro.

Tuy các định nghĩa trên khác nhau nhưng đều thống nhất rằng khởi nghiệp cần có sự chuẩn bị từ trước chứ không hoàn toàn là bẩm sinh. Nhưng người khởi nghiệp họ thích tự mình làm chủ và lèo lái sự nghiệp kinh doanh dựa trên những kế hoạch đã được lập ra và hưởng mọi lợi nhuận thu được thay vì đi làm công ăn lương cho người khác. Khởi nghiệp gắn liền với việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội là công việc có ý nghĩa đối với người thích thách thức và là cơ hội phát huy tính sáng tạo. Họ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế nước nhà bởi những sáng kiến vượt trội và những kỹ năng vận hành nền kinh tế.

Tuy nhiên, ngoài năng lực và nguồn vốn tự thân cũng chưa đủ để 12 thành công mà cần phải có những chính sách hỗ trợ kinh tế thuận lợi và phù hợp, một chiến lược ổn định và sáng suốt. Nếu một cá nhân chỉ mong muốn khởi nghiệp, tỉ lệ khởi nghiệp thành công sẽ không cao vì họ không có sự tự tin và khả năng khởi nghiệp. Ngược lại, họ có sự tin tưởng vào năng lực khởi nghiệp của bản thân thì chưa chắc các hoạt động khởi nghiệp sẽ được thực hiện vì họ không có ý định, mong muốn và đam mê. Chính vì thế, người có tiềm năng khởi nghiệp phải đồng thời vừa có sự tự tin vừa có ý định và mong muốn rõ ràng.3 Sinh viên khởi nghiệp Khởi nghiệp của sinh viên là môt hoạt động mà thông qua đó, sinh viên học vận dụng các kiến thức cũng như kỹ năng cần thiết, nắm bắt nguồn cơ để trở thành chủ của một doanh nghiệp ở bất kỳ một lĩnh vực mà họ yêu thích.

Không chỉ khởi nghiệp bằng vốn tự thân, mà hoạt động này có thể được hình thành dưới sự hỗ trợ từ phía nhà trường thông qua quá trình học tập và tạo lập kế hoạch kinh doanh, làm việc với các dianh nghiệp địa phương và các nguồn lực khác ngoài cộng đồng, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào để hình thành nên một doanh nghiệp khi sinh viên còn đang trong giai đoạn học tập đã trở thành chủ doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của Schnurr và Newing (1997), khởi nghiệp của sinh viên còn được định hiểu là ứng dụng thực tế các phẩm chất doanh nhân của sinh viên, ví dụ như năng động, đổi mới, sáng tạo và thích mạo hiểm trong môi trường làm việc, vận dụng các kiến thức, kỹ năng, tố chất cần thiết để trở nên thành công trong môi trường và văn khóa khởi nghiệp đó. Hoạt động khởi nghiệp của sinh viên bao gồm một số đặc điểm sau: Thứ nhất, hầu hết các sinh viên tham gia khởi nghiệp là muốn thể hiện mình, thử sức trong kinh doanh mà chưa nghĩ kĩ về ngành nghề kinh doanh cũng như định hướng phát triển trong tương lai. Thứ hai, khó khăn chung của những người khởi nghiệp nói chung trong đó có sinh viên bao gồm nguồn vốn, chưa có kinh nghiệm, chưa có định hướng cũng như kế hoạch 13 rõ ràng trước những phản ứng và thay đổi của thị trường.

Đa số họ muốn khởi nghiệp với mục đích thử sức và va chạm nhiều hơn, khả năng ứng phó với khó khăn cũng còn kém.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Khởi Nghiệp Của Sinh Viên Trong Thời Kỳ Covid-19" khám phá những yếu tố chính tác động đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên trong bối cảnh đại dịch. Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố như môi trường xã hội, tâm lý cá nhân và sự hỗ trợ từ gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định khởi nghiệp. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức mà sinh viên phải đối mặt mà còn gợi ý các giải pháp để khuyến khích tinh thần khởi nghiệp trong thời kỳ khó khăn này.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Tiểu luận thảo luận nhóm tmu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn Việt Nam, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về khởi nghiệp trong cộng đồng nông thôn. Ngoài ra, tài liệu Báo cáo các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường ĐH SPKT TP HCM sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh khởi nghiệp tại một trường đại học cụ thể. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ tác động của thái độ và môi trường đến ý định khởi nghiệp kinh doanh sẽ cung cấp thêm thông tin về ảnh hưởng của thái độ và môi trường đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên trong lĩnh vực kinh tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp trong thời kỳ Covid-19.