CHƯƠNG 1: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU Giới thiệu lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản như nhận thức nghề nghiệp, ý định khởi nghiệp, một số lý thuyết của vấn đề nghiên cứu, giả thuyết đề nghị và mô hình nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đưa ra các phương pháp dùng trong nghiên cứu như phương pháp định tính, định lượng, phương pháp lấy mẫu, các phương pháp xử lí số liệu. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Phân tích dữ liệu, tóm tắt kết quả nghiên cứu được.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐƯA RA MỘT SỐ HÀM Ý Kết luận chính của nghiên cứu, bàn luận kết quả nghiên cứu, từ kết quả rút ra được các hàm ý, hạn chế của nghiên cứu và hướng đề tài tiếp theo 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này nhằm giới thiệu cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu. Trên cơ sở này, mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn Việt Nam. Chương này gồm 2 phần chính, cơ sở lý thuyết về ý định khởi nghiệp và nhận thức khởi nghiệp của thanh niên nông thôn và xây dựng mô hình nghiên cứu.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan 2. Ý định khởi nghiệp Nghiên cứu “Những nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường đại học Trà Vinh”(Nguyễn Thanh Hùng; Nguyễn Thị Kim Pha) nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiê pŽ của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh.
Mẫu nghiên cứu được khảo sát từ 405 sinh viên bậc Đại học ở các ngành học khác nhau. Nghiên cứu dựa trên phương pháp thống kê mô tả và mô hình cân bằng cấu trúc tuyến tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy những nhân tố ảnh hưởng dương đến ý định khởi nghiê Žp của sinh viên thông qua nhân tố sự tự tin về tính khả thi trong khởi nghiê pŽ gồm: hoạt động giảng dạy, hoạt đô nŽ g ngoại khóa, ý kiến của những người xung quanh và sở thích kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến sự tự tin. Sự tự tin về tính khả thi trong khởi nghiệp càng cao thì ý định khởi nghiê Žp của sinh viên càng tăng Nghiên cứu của nhóm tác giả Phạm Cao Tố, Nguyễn Ngọc Mai, Nguyễn Văn Khả, Lê Thanh Tiệp, Nguyễn Đức Thuận với đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên năm 2, năm 3 vùng Đông Nam Bộ”.
Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên vùng Đông Nam Bộ. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 411 sinh viên năm 2 và năm 3 ở các Trường ở TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu (sinh viên Trường Cao đẳng nghề Du lịch Vũng Tàu). Nghiên cứu đã cho thấy có 4 nhóm nhân tố Sự đam mê kinh doanh, Kinh nghiệm, Giáo dục ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên vùng Đông Nam Bộ. Nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy (2015) “Các nhân tố tác động tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học”, đã khẳng định sự tác động của các nhân tố môi trường tới tiềm năng khởi sự kinh doanh, đồng thời tác giả cho rằng các trải nghiệm cá nhân trong đó có các trải nghiệm được tiếp cận trong quá trình học đại học 5 có tác động tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên; các hoạt động định hướng khởi sự kinh doanh trong và ngoài chương trình đào tạo của trường đại học đều tác động tích cực tới hai khía cạnh là tự tin và mong muốn khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học ở Việt Nam.
Nghiên cứu chỉ xem xét ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường cảm xúc kết hợp với các yếu tố thuộc trải nghiệm cá nhân tới tiềm năng khởi sự kinh doanh. Nghiên cứu của Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp: Trường hợp sinh viên khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh Trường Đại học Cần Thơ”, được khảo sát trên 233 sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai thuộc khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh tại Đại học Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu xác định được thứ tự ảnh hưởng theo mức độ quan trọng giảm dần của các nhân tố đến ý định KNKD của sinh viên bao gồm: (1) Thái độ và tự hiệu quả, (2) giáo dục và thời cơ khởi nghiệp, (3) nguồn vốn, (4) quy chuẩn chủ quan, (5) nhận thức kiểm soát hành vi. Nghiên cứu “ Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành Quản trị kinh doanh tại các trường Đại học/ Cao đẳng ở Thành phố Cần Thơ” của nhóm tác giả Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền, Mai Võ Ngọc Thanh dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ 400 sinh viên ngành QTKD tại các trường đại học/cao đẳng trên địa bàn thành phố.
Các phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có 4 nhân tố tác động đến ý định KSDN của sinh viên ngành QTKD, bao gồm: thái độ và sự đam mê, sự sẵn sàng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan, giáo dục. Trong đó, yếu tố thái độ và sự đam mê có tác động mạnh nhất đến ý định KSDN của sinh viên ngành QTKD. Một số nghiên cứu nước ngoài như: Nghiên cứu “Insights on entrepreneurship education in public universities in Turkey: Creating entrepreneurs or not?” ( Hiểu biết sâu sắc về giáo dục khởi nghiệp trong các trường đại học công lập ở Thổ Nhĩ Kỳ: Tạo doanh nhân hay không?) của tác giả Bige Aúkun, Nihan Yıldırım, Nghiên cứu đã chứng minh rằng các khóa học khởi nghiệp đã ảnh hưởng lớn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, nghiên cứu của họ ủng hộ việc tạo lập doanh nghiệp thông qua chương trình giáo dục khởi nghiệp.
Nghiên cứu “Entrepreneurship Quality of College Students Related to Entrepreneurial Education” (Chất lượng khởi nghiệp của sinh viên đại học liên quan đến giáo dục khởi nghiệp) của nhóm tác giả Zhou Hong, Tao Hong, Zhong Cui and 6 Wang Luzhuang, Nghiên cứu cho rằng chất lượng khởi nghiệp của sinh viên liên quan tới chương trình giáo dục khởi nghiệp vì nó làm giàu kiến thức về khởi nghiệp và làm phát triển các kỹ năng khởi nghiệp cho sinh viên. Trường đại học phải tập trung chú ý nhiều hơn nữa đến chương trình giáo dục khởi nghiệp của mình, tập trung vào các doanh nghiệp sinh viên, kết nối với xã hội, trao cho sinh viên nhiều cơ hội khởi nghiệp và phải chú trọng đến cơ hội thực tập va chạm thực tế của sinh viên. Nghiên cứu Explaining entrepreneurial intentions of university students: a cross- cultural study(Giải thích ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học: một nghiên cứu đa văn hóa)của nhóm tác giả Mark Pruett, Rachel Shinnar, Bryan Toney, Francisco Llopis, Jerry Fox (2009). Nghiên cứu đã chứng minh “văn hóa/quốc gia”, “yếu tố xã hội”,“tấm gương điển hình trong khởi nghiệp”, “sự ủng hộ của gia đình”, “thiên hướng khởi nghiệp” tác động tích cực đến “ý định khởi nghiệp”.
Nghiên cứu “Personality or environment?A comprehensive study on the entrepreneurial intentions of university students”( 2013) (Tính cách hay môi trường? Một nghiên cứu toàn diện về ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học) của tác giả Harun Sesen, kết quả nghiên cứu cho thấy ngoại trừ các yếu tố như “khả năng tiếp cận vốn”, “môi trường khởi nghiệp ở trường đại học”, các yếu tố còn lại như “thông tin kinh doanh”, “mối quan hệ xã hội”, “môi trường khởi nghiệp ở trường đại học” tác động tích cực đến “ý định khởi nghiệp”. Nghiên cứu “Entrepreneurial motivation” (2003) ( động lực khởi nghiệp) của nhóm tác giả Scott Shanea,*, Edwin A. Collins Nghiên cứu đã đề xuất các nhóm yếu tố thuộc động cơ có khả năng ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp như “nhu cầu thành đạt”, “khao khát được độc lập”, “đạt được mục tiêu”.Bên cạnh đó còn đề xuất các tính cách như “chấp nhận rủi ro”, “niềm tin vào năng lực bản thân”, “kiểm soát bản thân”, “chịu đựng sự mơ hồ”, “đam mê”, “nỗ lực”, “có tầm nhìn” có mối quan hệ với ý định khởi nghiệp của sinh viên. Nhận thức khởi nghiệp Có rất nhiều nghiên cứu nhận thức về khởi nghiệp nhằm trả lời câu hỏi tại sao một người trở thành hoặc không trở thành doanh nhân.
Trong quá trình nhận thức và ra quyết định trở thành doanh nhân, mọi người không chỉ sử dụng các phán đoán cảm tính mà còn cả suy nghĩ và niềm tin của họ (Bandura, 1986; Lent và đồng nghiệp, 1994). Shapero (1982) cho rằng dự định khởi nghiệp xuất phát từ nhận thức về sự mong muốn, sự khả thi và xu hướng hành động trên cơ sở xuất hiện những cơ hội kinh doanh. Ajzen (1991) đề xuất học thuyết Hành vi có kế hoạch - Theory of Planned Behavior (TPB) dựa trên tiền đề rằng mọi hành vi đều đòi hỏi một số hoạch định nhất 7 định. Do đó, các dự định được định hình bởi ba thành phần: thái độ của chủ thể hướng đến hành vi, các chuẩn mực mang tính chất chủ quan và nhận thức của chủ thể về kiểm soát hành vi.
Xuất phát từ học thuyết của Ajzen (1991), Krueger & Carsrud (1993) đã đề xuất mô hình Khởi nghiệp theo hành vi có kế hoạch – việc thành lập doanh nghiệp mới là một quá trình có chủ định bị ảnh hưởng bởi thái độ được phát triển từ nhận thức về những mong muốn, về các chuẩn mực xã hội và về sự kiểm soát. Hiện nay chưa có nghiên cứu khoa học về nhận thức khởi nghiệp ở Việt Nam, phần lớn là ở nước ngoài với các lý thuyết liên quan đến nhận thức khởi nghiệp. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2. Doanh nhân và tinh thần doanh nhân Hiện nay trên thế giới có các quan điểm về doanh nhân như sau: Một là, quan điểm nhấn mạnh đến tính sáng tạo, ví dụ theo Bách khoa toàn thư Anh ngữ Collin cho rằng doanh nhân là người tạo ra doanh nghiệp từ hai bàn tay trắng.
Ở góc độ này doanh nhân được xem như là người tìm ra những giá trị mới, phải có óc sáng tạo để đem lại lợi ích kinh tế cho bản thân cũng như xã hội.