Chương 1 của đề tài là phần Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Trong phần này, tác giả trình bày lý do chọnađề tài cũng như ý nghĩaavà tính mới của đề tài, xác định các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiênacứu, các phương pháp nghiên cứu. Đồng thời, giới thiệu sơ lược về bố cục 05 chương và định hướng các nội dungacần thực hiện cho những chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Tổng quan về giá trị thương hiệu 2.1 Định nghĩa về giá trị thương hiệu Khái niệm về giá trị thương hiệu bắt đầu được sử dụng rộng rãi vào thập niên 80 bởi một số công ty (Barwise 1993) và sau đó đã được Aaker phổ biếnaqua việc xuất bản ấn phẩm nổi tiếng của mình (Aaker 1991).
Sau Aaker, các tác giả khác như Srivastava & Shocker (1991), Kapferer (1992) và Keller (1993, 1998) đã cống hiến thêm những nghiên cứu sơ khaiavề vấn đề này.Tại Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Đình Thọ & công trình đã đưa ra mô hình các thành phần củaagiá trị thương hiệu, tuy nhiên mô hình này chỉ ápadụng chủ yếu đối với sản phẩm là hàng tiêu dùng. Giá trị thương hiệu được hiểu là những giá trịađặc thù mà thương hiệu mang lại cho những đối tượng liên quan (bản thân doanh nghiệp, khách hàng, cổ đông, nhân viên…). Giá trị thương hiệu là lợi ích mà thương hiệu mang lại cho một doanh nghiệp.2 Khái niệm nhận biết thương hiệu Nhận biết về thương hiệu là khả năng mà người tiêu dùng hay khách hàng nhận ra được sự tồn tại và phát triển sẵn có của một loại hình sản phẩm, dịch vụ nào đó thuộc doanh nghiệp nhất định. Nhận biết thương hiệu còn là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ thành công của mỗi thương hiệu, thể hiện sự nhận biết của khách hàng về một thương hiệu nào đó.
gười ta cũng tiếp cận khái niệm nhận biết thương hiệu như một giai đoạn đầu tiên của tiến trình mua sắm. Theo Aaker (1991) cho rằng nhận biết thương hiệu là khả năng người tiêu dùng tiềm năng nhận ra và hồi tưởng rằng một thương hiệu được xem như là một bộ phận kết cấu của một sản phẩm nào đó. Cũng trong năm 1991, Aaker phát biểu rằng 8 sự nhận biết về thương hiệu là khả năng mà người tiêu dùng có thể nhận diện và gợi nhớ đến thương hiệu trong những tình huống khác nhau. Theo Keller (1993) thì sự nhận biết về thương hiệu từ phía người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng đến quyết định sử dụng sản phẩm, dịch vụ của họ, và nhận biết về thương hiệu bao gồm sự nhận ra thương hiệu và sự gợi nhớ về thương hiệu.
Còn tác giả Netemeyer cùng cộng sự (2004) phát biểu rằng nhận biết thương hiệu là mức độ mà khách hàng tự suy nghĩ về một thương hiệu nào đó khi một sản phẩm của thương hiệu đó được nhắc đến. Theo Thảo và cộng sự (2010), sức mạnh mà một thương hiệu hiện diện trong tâm trí của khách hàng là mức độ nhận biết về thương hiệu. Theo Thọ và Trang (2011) cho rằng để người tiêu dùng quyết định sử dụng sản phẩm hay dịch vụ của một thương hiệu nào đó thì trước tiên họ phải nhận biết được thương hiệu đó, do đó sự nhận biết được thương hiệu chính là yếu tố cạnh tranh của doanh nghiệp trong quyết định phân loại và sử dung từ phía người tiêu dùng. Kotler và Keller (2016) xác định nhận biết về thương hiệu thúc đẩy khả năng nhớ lại hoặc nhận ra thương hiệu một các đầy đủ và chi tiết của người tiêu dùng trong quyết định mua hàng.
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về sự nhận biết về thương hiệu nhưng nhìn chung, đều đề cập đến khái niệm chính là sự gợi nhớ hay nhận diện trong tâm trí của khách hàng, việc tạo ra được sự nhận biết về thương hiệu từ người tiêu dùng cũng là một trong những bước quan trọng để thu hút khách hàng lựa chon sử dụng sản phẩm, dịch vụ nhằm thúc đẩy doanh số bán hàng và chiếm được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ trong ngành Các yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu Đề tài nghiên cứu về giá trị thương hiệu đã bắt đầu xuất hiện vào những năm của thập niên 80 bởi nhiều nhà nghiên cứuatrên thế giới, các nghiên cứu này tập trung 9 vào việc xác định các thành phần của giá trị thươngahiệu dựa vào mức độ nhận biết từ phía khách hàng. Trong đó, có thể kể đến một số nghiên cứu nổi tiếng sau đây: Theo David Aaker, giáo sư tại trường đại học California, Berkeley vào năm 1991 đã viết những bài báo đầu tiên về giá trị thương hiệu (Brand Equity). Theo mô hình nghiên cứu của Aaker, giá trị thương hiệu được cấu thành bởi 5 yếu tố: (1) lòng trung thành thương hiệu (brand loyalty), (2) sự nhận biết thương hiệu (brand awareness), (3) chất lượng cảm nhận (perceived quality), (4) sự liên tưởng thương hiệu (brand association), và (5) các tài sản khác (other propriety assets) Hình 2.2-1: Các yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu Lòng trung thành với thương hiệu: Là mức độ mà khách hàng trung thành biết đến một thương hiệu, là tìnhahuống phản ánh việc khách hàng đổi sang sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thương hiệu khác, đặc biệt khi thương hiệu thay đổi giá cả hoặc đặc điểm của sản phẩm. Sự nhận biết về thương hiệu: Là mức độ mà một thương hiệu được biết đến trong tâm trí của khách hàng.
Theo Aaker, những lợi thế khi một thương hiệu có mức 10 độ nhận biết cao gồm: giúp khách hàng dễ dàng tìm kiếm thông tin sản phẩm, độ khác biệt hóa sản phẩm cao so với đối thủ cạnh tranh, đưa ra lý do mua hàng và tạo thái độ tích cực trong lòng khách hàng. Chất lượng cảm nhận: Là mức độ mà mộtathương hiệu được coi là cung cấp sản phẩm chất lượng tốt, là quan điểm và cảm nhận của khách hàng về tổng quan những đặc tính vượtatrội của sản phẩm từ thương hiệu nàyacó sự khác biệt so với sản phẩm của thương hiệu khác. Sự liên tưởng thương hiệu: là sự cảm nhận, niềm tin và kiến thức mà khách hàng có được về thương hiệu. Liên tưởng thương hiệu cóađược từ truyền thông của doanhanghiệp và chính trải nghiệmatiêu dùng của khách hàng.
Đây là nền tảng cho những quyết định của khách hàng về việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thương hiệu cũng như lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu nào đó. Sự liên tưởng thương hiệu bao gồm những thuộc tính chức năng và thuộc tính phi chức năng. Thuộc tính chức năng là những đặc điểm hữu hình của thươngahiệu như chất lượng của sản phẩm dịch vụ, sự thuận lợi trong địa điểm kinh doanh, sự hợp lý về giá cả,… Những thuộcatính phi chức năng bao gồm những đặc điểm vô hình đáp ứng nhu cầu của khách hàng như sự công nhận xã hội, sự thể hiện bản thân, lòng tự trọng. Quyền sở hữu khác: Là các tài sản như bằng sángachế và quyền sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu hàng hóa, quan hệ với các kênh phân phối và cácađối tác thương mại.
Càng tích lũy nhiều quyền sở hữu, thương hiệu càng có lợiathế cạnh tranh trong các lĩnh vực đó. Vào năm 1995, Lassar và cộng sự đã công bố môahình nghiên cứu dựa trên sản phẩm thức ănanhanh tại các cửa hàng thức ăn nhanh ở 3 nước Bắc Âu cho rằng, giá trị thương hiệu bao gồm 5 yếu tố: (1) Chất lượng cảm nhận, (2) giá trị cảm nhận, (3) ấn tượng về thương hiệu, (4) lòng tin về thương hiệu, và (5) cảm tưởng của khách hàng về thương hiệu. Năm 2002, Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang đã tiến hành nghiên cứu về giá trị thương hiệu đối với sản phẩm dầu gội tại Thành phố Hà Nôi. Tác giả 11 sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu 299 người tiêu dùng tại Hà Nội và chỉ ra 4 yếu tố trong thành phần giá trị thương hiệu bao gồm: Nhận biết thương hiệu, lòng ham muốn thương hiệu, chất lượng cảm nhận về thương hiệu và lòng trung thành đối với thương hiệu.
Nghiên cứu đã góp phần khám phá ra các yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu cũng như đánh giá thanh đo các yếu tố này tại thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, vì nghiên cứu được thực hiện trên 1 sản phẩm nên vẫn còn sự hạn về mức độ chênh lệch của thang đo so với các sản phẩm khác. Năm 2017, Trần Đăng Khoa đã dựa trên mô hình lý thuyết của Aaker và đưa ra đề tài “Đo lường giá trị thương hiệu ngân hàng tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh”. Tác giả tập trung vào việc xác định các thành phần giá trị thương hiệu trong lĩnh vực ngân hàng dựa trên quan điểm của khách hàng tại Tp.
Hồ Chí Minh. Sau khi tiến hành thu thập dữ liệu với 173 khách hàng đang giao dịch tại ngân hàng trên phạm vi Tp. Hồ Chí Minh, tác giả tiếp tục thực hiện đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Anpha để kiểm định mối tương quan giữa các biến, kết hợp phân tích nhân tố phám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA. Từ đó, tác giả xác định 4 thành phần cấu thành giá trị thương hiệu gồm: (1) sự liên tưởng và trung thành với thương hiệu, (2) nhận biết đặc trưng thương hiệu, (3) hình ảnh dịch vụ thương hiệu và (4) nhận biết phân biệt thương hiệu.
Từ kết quả nghiên cứu trên, các ngân hàng tại TP. Hồ Chí Minh có thể vận dụng để có những biện pháp, chiến lược nhằm nâng cao giá trị thương hiệu của ngân hàng theo quan điểm của khách hàng. 12 Mức độ nhận biết thương hiệu Trong năm 1991, tác giả Aaker đã công bố mô hình kim tự tháp nghiên cứu về mức độ nhận biết giá trị thương hiệu gồm 4 cấp độ như sau: (1) Không nhận biết thương hiệu (Unaware of Brand), (2) Nhận diện thương hiệu (Brand Recognition), (3) Gợi nhớ về thương hiệu (Brand Recall) và (4) Thương hiệu đuợc nhận đầu tiên (Top of mind). Top of mind Br and Recall Bran d Regconit ion Unaware of Branch Hình 2.3-1: Mô hình mức độ nhận biết giá trị thương hiệu của Aaker Không nhận biết thương hiệu (Unaware of Brand): khách hàng hoàn toàn không có nhận biết nào về thương hiệu khi được hỏi.
Mức độ nhận biết bằng 0. Nhận diện thương hiệu (Brand Recognition): là khả năng khách hàng nhận ra được thương hiệu khi họ nhận được sự gợi ý. Đây là mức độ nhận biết về thương hiệu thấp. Gợi nhớ về thương hiệu (Brand Recall): đây là mức độakhó thực hiện đối với một doanh nghiệp khi xây dựng thương hiệu để đảm bảo khách hàng nhận diện được thương hiệu mà không cần các gợi ý liên quan.