lời mở đầu và phần kết luận, luận văn này được trình bày thành 4 chương. Cụ thể như sau: Chƣơng 1: Tổng quan về Tài sản thƣơng hiệu định hƣớng khách hàng tại Ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích tài sản thƣơng hiệu định hƣớng khách hàng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong Chƣơng 4: Những khuyến nghị phát triển tài sản thƣơng hiệu định hƣớng khách hàng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong giai đoạn 2019 -2022 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TAI SẢN THƢƠNG HIỆU DỊNH HƢỚNG KHACH HANG TẠI NGAN HANG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 1. Tổng quan về tài sản thƣơng hiệu định hƣớng khách hàng 1. Một số khái niệm cơ bản Thương hiệu - Brand Thương hiệu (brand) là tên gọi, biểu tượng, dấu hiệu, kiểu dáng hoặc sự phối hợp của tất cả các yếu tố này để có thể nhận biết hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bán hàng cũng như phân biệt nó với hàng hóa hoặc dịch vụ của những người bán khác.‖ Thương hiệu cũng là trải nghiệm của khách hàng thông qua tập hợp các hình ảnh, ý tưởng hay các dấu hiệu của sản phẩm như tên gọi, logo, khẩu hiệu, và tập hợp các ý tưởng thiết kế.
Các chiến lược nhận diện thương hiệu mà từng công ty xây dựng đều nhằm tạo ra cho khách hàng một loạt các trải nghiệm trực tiếp với một sản phẩm, dịch vụ cụ thể không chỉ qua các lần sử dụng sản phẩm mà khách hàng còn bị ảnh hưởng vởi các quảng cáo, thiết kế qua các phương tiện truyền thông. Trong đề tài này, tác giả quan niệm Thương hiệu là tất cả những cảm nhận, suy nghĩ của khách hàng về một doanh nghiệp, một sản phẩm hay dịch vụ với đầy đủ các khía cạnh như: mô tả nhận diện (brand identities), giá trị (brand values), thuộc tính (brand attributes), cá tính (brand personality). Xét về khía cạnh nhận diện thì thương hiệu là một cái tên hay hình ảnh, điểm nhấn, dấu hiệu mà giúp khách hàng nhận biết một sản phẩm, dịch vụ. Thương hiệu là tài sản vô hình, do đó giá trị của nó mang lại cũng vô hình khó định lượng, một thương hiệu thành công cho thấy sản phẩm, dịch vụ cung cấp có lợi thế cạnh tranh mạnh hơn so với đối thủ.
Thương hiệu của doanh nghiệp của là yếu tố gây ấn tượng sâu sắc, tạo ra sự khác biệt và cơ sở quan trọng để khiến người tiêu dùng quyết định lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp mình. Tài sản thương hiệu định hướng khách hàng (Customers Based Brand Equity - CBBE) Đến nay, có nhiều quan điểm và cách đánh giá tài sản thu ong hiẹu nhung tựu chung có hai cách tiếp cận chính, đó là: quan điểm tài chính (Financial Based Brand 5 z Equity) và quan điểm khách hàng (Customers’ Based Brand Equity). Quan điểm tài chính đặt sự quan tâm nhiều hơn đến dòng tiền gia tăng mà một sản phẩm có thương hiệu nhận được so với sản phẩm không mang thương hiệu, và do đó thương hiệu được xem là một phần của việc đầu tư vốn và thương hiệu được xem như một loại tài sản cố định vô hình trong lĩnh vực kế toán tài chính. Theo quan điểm này, tài sản thương hiệu dựa được đo lường dựa vào giá trị tài chính như thu nhập tiềm năng, giá trị thị trường, và chi phí thay thế.
Kết quả đo lường tài sản thương hiệu có thể giúp ghi nhận thương hiệu như một tài sản có giá trị được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán. Tuy nhiên, cách tiếp cận tài chính này không giúp nhiều cho nhà quản trị trong việc tận dụng và phát triển giá trị của thương hiệu. Trong khi đó, cách tiếp cạn tài sản thuong hiẹu dựa vào khách hàng xem Tài sản thương hiệu chỉ liên quan đến nhận thức của người tiêu dùng về thương hiệu đó chứ không phải là bất kỳ chỉ số khách quan nào khác. Quan điểm tiếp cận này đuợc nhiều học giả ủng họ hon vì ―nếu mọt thuong hiẹu khong có ý nghĩa với khách hàng thì khong mọt định nghĩa nào về tài sản thuong hiẹu là thạt sự có ý nghĩa‖.
Bất kể các định nghĩa là gì, tài sản thương hiệu thực sự đại diện cho vị trí của sản phẩm trong tâm trí của người tiêu dùng trên thị trường. Đó chính xác là những đại diện được xây dựng thành công và ý nghĩa của các thương hiệu luôn xuất hiện trong tâm trí của người tiêu dùng, cung cấp giá trị cho các thương hiệu. Vì vậy, những gì mà người tiêu dùng nghĩ đến một thương hiệu cụ thể xác định giá trị mà nó sử hữu. Một thương hiệu là toàn bộ những suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác, và các liên kết mà nó gợi lên.
Do đó, một thương hiệu được cho là có giá trị tài sản nếu nó có khả năng gây ảnh hưởng đến hành vi của những người nhìn thương hiệu, định hướng sở thích, thái độ và hành vi mua hàng. Theo định nghĩa của tác giả, Tài sản thương hiệu định hướng khách hàng là tạp hợp các giá trị gắn liền với ten hoạc biểu tuợng của thuong hiẹu, mà những giá trị này sẽ đuợc cọng vào sản phẩm hay dịch vụ nhằm gia tang giá trị đối với khách hàng. Tài sản thương hiệu xuất phát từ nhận thức về thương hiệu của khách hàng, lòng trung thành thương hiệu, cảm nhận chất lượng thương hiệu và các biểu tượng 6 z thương hiệu nhằm cung cấp nền tảng cho một lợi thế cạnh tranh và các lợi thế về thu nhập trong tương lai. Định đề cơ bản của CBBE là khả năng tiêu thụ của thương hiệu nằm ở những gì mà người tiêu dùng nhận biết, cảm thấy và nghe thấy về thương hiệu đó tích luỹ theo thời gian.
Nói cách khác, thương hiệu có được khách hàng mua hay không là phụ thuộc vào những gì có trong tâm trí họ. Thách thức đối với người làm thị trường trong xây dựng một thương hiệu mạnh là đảm bảo rằng người tiêu dùng có những kinh nghiệm tốt với sản phẩm, dịch vụ và các chương trinh marketing kèm theo để các ý muốn, cảm xúc, hình ảnh, nhận thức, ý kiến,…trở nên gắn kết với thương hiệu. Theo cách tiếp cận này, một thương hiệu được cho là có tài sản thương hiệu dương khi người tiêu dùng phản ứng thuận lợi hơn đối với sản phẩm và hoạt động marketing sản phẩm mang thương hiệu đó. Như vậy một thương hiệu với tài sản thương hiệu dương dẫn đến người tiêu dùng dễ chấp nhận một mở rộng thương hiệu mới, ít nhạy cảm hơn với sự tăng giá hay sự rút lui của hỗ trợ quảng cáo, hoặc sẵn sàng tìm kiếm thương hiệu trong một kênh phân phối mới.
Như vậy cụ thể hơn, CBBE là giá trị gia tăng cho sản phẩm thông qua phản ứng thuận lợi đối với thương hiệu của người tiêu dùng, xuất phát từ nhận thức cao (quen thuộc) và những liên tưởng mạnh mẽ, thuận lợi và độc đáo trong trí nhớ của người tiêu dùng về thương hiệu đó. Có ba thành phần then chốt của khái niệm này. Thứ nhất, tài sản thương hiệu xuất phát từ sự khác biệt trong phản ứng của người tiêu dùng. Nếu không có sự khác biệt, sản phẩm với tên thương hiệu này sẽ chỉ được xếp loại như là một loại sản phẩm chung.
Thứ hai, những phản ứng khác nhau này của người tiêu dùng (so sánh giữa thương hiệu được nhận diện và thương hiệu không được nhận diện) là kết quả của kiến thức thương hiệu - bao gồm tất cả suy nghĩ, tình cảm, hình ảnh, kinh nghiệm, niềm tin v. gắn kết với thương hiệu. Tất cả những thành phần này được gộp thành hai nhóm chính là nhận thức và hình ảnh thương hiệu. Như vậy, tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng xuất hiện khi người tiêu dùng quen thuộc (có mức độ nhận thức cao) với thương hiệu và nắm giữ những liên tưởng thương hiệu mạnh, 7 z thuận lợi và độc đáo trong trí nhớ.
Thứ ba là, phản ứng khác nhau của người tiêu dùng tạo nên tài sản thương hiệu được phản ảnh trong cảm nhận, sự ưa thích và hành vi liên quan đến mọi khía cạnh marketing của một thương hiệu. Đó là phản ứng và quan hệ của người tiêu dùng với thương hiệu. Theo đó, giá trị của tài sản thương hiệu sẽ được đánh giá thông qua việc đo lường nhận thức và hình ảnh thương hiệu, bên cạnh đó là tình cảm (cảm xúc, thái độ) và quan hệ của khách hàng đối với thương hiệu đó. Đo lường kết quả tài sản thương hiệu sẽ là một trong những cơ sở quyết định giá trị tài chính của thương hiệu đó.
Như vậy, CBBE đánh giá cao phản ứng của người tiêu dùng đối với thương hiệu, nhấn mạnh suy nghĩ của người tiêu dùng tới thương hiệu thông qua nhận thức, chất lượng cảm nhận, thái độ, sở thích, các thuộc tính đồng hành, và lòng trung thành. Với đặc trưng của dịch vụ nói chung như tính vô hình, tính không thể tách biệt, tính không ổn định và khó xác định, vấn đề xác định giá trị thương hiệu theo mô hình CBBE trở nên đặc biệt phù hợp. Các yếu tố cơ bản cấu thành CBBE Bốn yếu tố chính cấu thành tài sản thuong hiẹu dựa vào khách hàng, bao gồm: nhạn biết thuong hiẹu (Brand Awareness), lien tuởng thuong hiẹu (Brand Associations), chất luợng cảm nhạn (Perceived Quality), và trung thành thuong hiẹu (Brand Loyalty). Theo thời gian, các nhà nghiên cứu đã phát triển và chi tiết hoá các yếu tố cấu thành CBBE, như sẽ được trình bày trong phần tiếp theo, nhưng đều dựa trên bốn yếu tố ban đầu của.
Trong phần này, chúng tôi tập trung làm rõ khái niệm của bốn yếu tố này, nhằm có cái nhìn thống nhất trong việc phát triển các khái niệm nghiên cứu trong phạm vi đề tài. Nhận biết thương hiệu (Brand Awareness) Yếu tố cấu thành đầu tiên của tài sản thương hiệu chính là nhận biết thương hiệu. Nhạn biết thuong hiẹu đề cạp đến sức mạnh hiẹn diẹn của mọt thuong hiẹu trong tam trí khách hàng. Nó được xác định là khả năng của một cá nhân để nhớ lại và nhận ra một thương hiệu.
Nhận biết về thương hiệu là một yếu tố quyết định chủ yếu của thương hiệu. Nhạn biết thuong hiẹu gồm có: nhạn ra thuong hiẹu 8 z (Recoginition) và gợi nhớ thuong hiẹu (Recall). Nhạn ra thuong hiẹu là ―khả nang nhạn dạng đuợc ten thuong hiẹu giữa những ten thuong hiẹu khác. Gợi nhớ thuong hiẹu‖ là ―trong trí nhớ của nguời tieu dùng nhớ ngay đến thuong hiẹu khi đuợc hỏi đến dòng sản phẩm tuong ứng‖, tức là khả năng nhớ ra thương hiệu mà không cần ―nhìn‖ thấy hoặc được trợ giúp/gợi ý gì về thương hiệu đó.