Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thị Diễm Trinh (chuyên ngành Marketing, Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM, thực hiện năm 2021 dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Hoàng Việt Phương) tiếp cận chủ đề khởi nghiệp kinh doanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Theo tác giả, khởi nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu tự làm chủ, gia tăng thu nhập cá nhân mà còn tạo việc làm, giảm áp lực thất nghiệp cho xã hội và đóng góp ngân sách quốc gia.

Văn bản dẫn chứng số liệu từ Tổng cục Thống kê (quý III/2017) cho thấy cả nước có 1,07 triệu lao động trong độ tuổi thất nghiệp, trong đó nhóm có trình độ chiếm 237 nghìn người (tỷ lệ 4,51%). Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 3,22%, nông thôn là 1,81%, và tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên độ tuổi 15–24 trong 6 tháng đầu năm 2017 ở mức 7,48%. Mặc dù phong trào khởi nghiệp nhận được sự quan tâm thông qua Chương trình “Thanh niên khởi nghiệp” giai đoạn 2016–2021 của Trung ương Đoàn, Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”, cùng các gói hỗ trợ của TP.HCM (ngân sách 1.000 tỷ đồng hỗ trợ 2.000 dự án khởi nghiệp đến năm 2020, Quỹ Đầu tư khởi nghiệp và sáng tạo HSIF), tỷ lệ khởi nghiệp tại Việt Nam vẫn thấp hơn mức trung bình thế giới. Hoạt động khởi nghiệp của thanh niên phần lớn dựa vào vốn tự có hoặc vay mượn người thân, đối mặt với rào cản về thủ tục hành chính, thể chế kinh tế và thiếu kinh nghiệm thương mại hóa.

Báo cáo Chỉ số Doanh nhân Toàn cầu (GEM 2015–2016) chỉ ra rằng thanh niên Việt Nam từ 18–35 tuổi có tỷ lệ khởi nghiệp đạt 15,5%, cao hơn nhóm trung niên 36–64 tuổi (11,9%). Địa bàn TP.HCM là trung tâm kinh tế lớn, nơi tập trung 393.669 doanh nghiệp hoạt động (năm 2016) và ghi nhận khoảng 36.000 doanh nghiệp mới thành lập với số vốn đăng ký 292.610 tỷ đồng. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước trước đó thường có tính đơn lẻ: có nghiên cứu chỉ xem xét yếu tố môi trường bên ngoài (như Nguyễn Thu Thủy, 2015), có nghiên cứu lại chỉ tập trung vào tố chất cá nhân bên trong (như Lý Thục Hiền, 2010). Do đó, khóa luận xác lập nghiên cứu tích hợp cả hai chiều kích để giải thích ý định khởi nghiệp của sinh viên khối kinh tế tại TP.HCM.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản gồm:

  1. Xác định các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại TP. Hồ Chí Minh.
  2. Đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của nhóm đối tượng này.
  3. Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại TP. Hồ Chí Minh.

Ba câu hỏi nghiên cứu tương ứng được đặt ra:

  1. Các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại TP. Hồ Chí Minh?
  2. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại TP. Hồ Chí Minh?
  3. Những hàm ý quản trị nào nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trong lĩnh vực kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh?

Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên kinh tế. Đối tượng khảo sát là sinh viên khối ngành kinh tế tại 5 trường đại học trên địa bàn TP.HCM. Phạm vi không gian đặt tại TP.HCM và thời gian hoàn thành khóa luận là năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên hai lý thuyết nền tảng:

  • Thuyết Hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991): Giả định hành vi khởi nghiệp được dẫn dắt trực tiếp bởi ý định, trong đó ý định chịu sự chi phối của ba thành tố: Thái độ đối với hành vi (Perceived attitude), Ý kiến những người xung quanh hay Chuẩn mực chủ quan (Social norm), và Cảm nhận khả năng kiểm soát hành vi (Perceived behavior control).
  • Thuyết Sự kiện khởi nghiệp (Shapero’s Entrepreneurial Event model - SEE) của Shapero & Sokol (1982): Quyết định thành lập doanh nghiệp xuất phát từ các biến cố cuộc sống đóng vai trò nhân tố đẩy (mất việc, bất mãn) hoặc nhân tố kéo (có tài trợ, tìm được đối tác), tương tác trực tiếp với hai nhận thức cốt lõi là Cảm nhận về tính khả thi (Perceived feasibility) và Cảm nhận về sự mong muốn (Perceived desirability).

Tác giả tổng hợp các công trình thực nghiệm trước đây để xác định biến số mô hình:

Tác giả nghiên cứu Năm Các yếu tố tác động được phát hiện
Lüthje & Franke 2004 Đặc điểm cá nhân, Thị trường, Tài chính, Môi trường giáo dục
Wongnaa & Seyram 2014 Tính cách, Hỗ trợ từ gia đình và bạn bè, Nghề nghiệp của cha mẹ, Môi trường giáo dục, Giới tính, Tiếp cận tài chính
Ambad & Damit 2016 Hỗ trợ giáo dục, Chuẩn chủ quan, Cơ chế chính sách, Đặc điểm tính cách, Kiểm soát hành vi
Nguyễn Doãn Chí Luân 2012 Cảm nhận sự khao khát, Điều kiện thị trường và tài chính, Cảm nhận tính khả thi, Môi trường giáo dục đại học
Phan Anh Tú & Giang Thị Cẩm Tiên 2015 Động lực trở thành doanh nhân, Nền tảng gia đình, Chính sách chính phủ và địa phương, Tố chất doanh nhân, Khả năng tài chính, Đặc điểm cá nhân
Vũ Quỳnh Nam 2019 Kỳ vọng của bản thân, Thái độ với khởi nghiệp, Cảm nhận năng lực bản thân, Chuẩn mực niềm tin, Vốn tri thức, Vốn tài chính

Từ tổng quan tài liệu, tác giả đề xuất mô hình gồm 6 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc:

  • Biến độc lập: Tài chính (F), Môi trường giáo dục (EDU), Chuẩn mực chủ quan (SS), Đặc tính cá nhân (PC), Cảm nhận tính khả thi (PF), Thái độ với khởi nghiệp (A).
  • Biến phụ thuộc: Ý định khởi nghiệp kinh doanh (EI).
  • 6 giả thuyết nghiên cứu (H1 đến H6) đều giả định mối quan hệ tác động cùng chiều (+) giữa từng yếu tố độc lập với biến phụ thuộc.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp hai giai đoạn:

  1. Nghiên cứu sơ bộ: Tiến hành khảo sát định lượng trực tiếp 50 sinh viên bằng bảng câu hỏi nháp để đánh giá sơ bộ độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha) và phân tích nhân tố khám phá (EFA).
  2. Nghiên cứu chính thức: Khảo sát trực tiếp sinh viên khối ngành kinh tế tại 5 trường đại học ở TP.HCM. Công thức tính mẫu dựa trên quy tắc của Hair et al. (tỷ lệ 5 mẫu cho 1 biến quan sát; mô hình có 33 biến quan sát, yêu cầu tối thiểu 165 mẫu). Tác giả phát ra 220 phiếu khảo sát, thu về 200 mẫu hợp lệ đưa vào xử lý dữ liệu trên phần mềm SPSS 20.0.

Thang đo sử dụng dạng Likert 5 mức độ (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý) gồm 33 biến quan sát: Tài chính (5 biến: F1–F5), Môi trường giáo dục (5 biến: EDU1–EDU5), Chuẩn mực chủ quan (4 biến: SS1–SS4), Đặc tính cá nhân (5 biến: PC1–PC5), Cảm nhận tính khả thi (5 biến: PF1–PF5), Thái độ với khởi nghiệp (5 biến: A1–A5), và Ý định khởi nghiệp (4 biến: EI1–EI4).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về đề tài

Chương này thiết lập nền tảng nghiên cứu thông qua phân tích bối cảnh thất nghiệp của thanh niên có trình độ (4,51%) và các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp của Chính phủ cùng UBND TP.HCM. Tác giả chỉ ra hạn chế của các đề tài trước đây khi chỉ tập trung vào một nhóm nhân tố bên trong hoặc bên ngoài, từ đó xác lập mục tiêu nghiên cứu gồm 3 nhiệm vụ cụ thể, định hình 3 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi đối tượng khảo sát là sinh viên kinh tế tại 5 trường đại học trên địa bàn thành phố, đồng thời mô tả cấu trúc 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Nội dung chương tập trung làm rõ các định nghĩa học thuật về người khởi nghiệp (Bird, 1988; MacMillan & Katz, 1992), ý định khởi nghiệp (Krueger, 1993, 2003; Shapero & Sokol, 1982) và khởi nghiệp kinh doanh (Linán & Chen, 2006). Tác giả phân tích chi tiết cơ chế hoạt động của thuyết TPB (Ajzen, 1991) và thuyết SEE (Shapero & Sokol, 1982), phân tích 6 công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình đề xuất gồm 6 nhân tố (Tài chính, Môi trường giáo dục, Chuẩn mực chủ quan, Đặc tính cá nhân, Cảm nhận tính khả thi, Thái độ với khởi nghiệp) tác động lên Ý định khởi nghiệp kinh doanh, đi kèm các lập luận hình thành giả thuyết từ H1 đến H6.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu, công cụ đo lường và kết quả thử nghiệm sơ bộ trên 50 đối tượng. Bảng câu hỏi gồm 3 phần: Giới thiệu mục đích; Nội dung đo lường thông tin nhân khẩu và 33 biến quan sát; Phần ghi nhận ý kiến đóng góp. Kết quả kiểm định sơ bộ xác nhận độ tin cậy thang đo đều đạt chuẩn:

Thang đo Số biến quan sát Cronbach's Alpha sơ bộ Đánh giá
Tài chính (F) 5 0,859 Phù hợp
Môi trường giáo dục (EDU) 5 0,861 Phù hợp
Chuẩn mực chủ quan (SS) 4 0,816 Phù hợp
Đặc tính cá nhân (PC) 5 0,901 Phù hợp
Cảm nhận tính khả thi (PF) 5 0,872 Phù hợp
Thái độ với khởi nghiệp (A) 5 0,857 Phù hợp
Ý định khởi nghiệp (EI) 4 0,720 Phù hợp

Kết quả EFA sơ bộ biến độc lập ghi nhận hệ số KMO = 0,623, kiểm định Bartlett có giá trị Chi bình phương = 1069,222 (bậc tự do 406, p = 0,000), trích được 6 nhân tố với tổng phương sai trích đạt 74,813% và Eigenvalue > 1. EFA biến phụ thuộc đạt KMO = 0,586, phương sai trích 64,638%. Toàn bộ 33 biến quan sát được giữ nguyên cho nghiên cứu chính thức trên cỡ mẫu 200 sinh viên.

Chương 4: Phân tích dữ liệu

Nội dung chương triển khai phân tích dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát sơ cấp. Tác giả thống kê mô tả mẫu 200 sinh viên theo 6 tiêu chí: giới tính, độ tuổi, năm học, trường đại học, chuyên ngành và mức độ ý định khởi nghiệp; đồng thời tính toán giá trị trung bình cho từng nhóm nhân tố. Tiếp đó, dữ liệu chính thức được kiểm tra độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA cho nhóm biến độc lập và biến phụ thuộc, phân tích ma trận tương quan Pearson, và thực hiện hồi quy tuyến tính bội (thông qua bảng phân tích phương sai ANOVA, hệ số xác định mô hình, hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta và kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số phóng đại phương sai VIF, biểu đồ phân phối phần dư).

Chương 5: Kết luận

Chương cuối tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, đối chiếu mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố lên ý định khởi nghiệp của sinh viên kinh tế. Từ các trọng số hồi quy thu được, tác giả xây dựng hệ thống hàm ý quản trị chi tiết cho 6 nhân tố thành phần: Thái độ với khởi nghiệp, Chuẩn mực chủ quan, Cảm nhận tính khả thi, Môi trường giáo dục, Đặc tính cá nhân, và Tài chính. Chương kết thúc bằng việc nêu rõ các giới hạn còn tồn tại về cỡ mẫu, phương pháp lấy mẫu và gợi ý các hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu xác nhận cả 6 biến độc lập trong mô hình đề xuất đều có mối quan hệ tác động cùng chiều (+) có ý nghĩa thống kê đối với Ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại TP.HCM.

Theo báo cáo tóm tắt khóa luận, mức độ tác động của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp có sự phân hóa và giảm dần theo thứ tự:

  1. Thái độ với khởi nghiệp (A): Đây là nhân tố có tác động mạnh nhất trong mô hình (hệ số hồi quy chuẩn hóa $\beta = 0,109$).
  2. Chuẩn mực chủ quan (SS).
  3. Cảm nhận tính khả thi (PF).
  4. Môi trường giáo dục (EDU).
  5. Đặc tính cá nhân (PC).
  6. Tài chính (F): Có mức độ tác động thấp nhất trong các biến độc lập ($\beta$ tiệm cận 0).

Dựa trên kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất các nhóm hàm ý quản trị:

  • Về phía nhà trường và môi trường giáo dục: Cần đổi mới phương pháp giảng dạy, đưa các học phần truyền cảm hứng khởi nghiệp vào chương trình đào tạo, thường xuyên tổ chức các buổi định hướng và diễn đàn giao lưu với các doanh nhân nhằm nâng cao nhận thức và thái độ tích cực của sinh viên đối với việc làm chủ doanh nghiệp.
  • Về chuẩn mực chủ quan và môi trường xã hội: Cần xây dựng mạng lưới kết nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội nhằm tạo ra môi trường ủng hộ, khích lệ sinh viên dấn thân vào hoạt động kinh doanh độc lập.
  • Về nâng cao tính khả thi và kỹ năng cá nhân: Tổ chức các cuộc thi ý tưởng kinh doanh thực chiến để rèn luyện kỹ năng chấp nhận rủi ro, khả năng kiểm soát dự án và lập kế hoạch kinh doanh.
  • Về tài chính: Tăng cường kết nối sinh viên với các quỹ ươm tạo, quỹ đầu tư khởi nghiệp (như Quỹ HSIF) và hướng dẫn kỹ năng huy động vốn, tiết kiệm vốn ban đầu.

Đóng góp của khóa luận nằm ở việc kiểm định thực nghiệm một mô hình tích hợp, kết hợp đồng thời cả nhóm nhân tố tâm lý bên trong (thái độ, đặc tính cá nhân, tính khả thi) và nhóm nhân tố ngoại cảnh (giáo dục, tài chính, chuẩn mực xã hội) trên nhóm đối tượng sinh viên khối ngành kinh tế tại TP.HCM, khắc phục tính phiến diện của các nghiên cứu đơn lẻ trước đây.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các hạn chế chính:

  • Kích thước mẫu khảo sát chính thức dừng lại ở 200 sinh viên tại 5 trường đại học thuộc khối kinh tế trên địa bàn TP.HCM, sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện nên tính đại diện cho toàn thể sinh viên tại TP.HCM chưa thực sự bao quát.
  • Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong nhóm ngành kinh tế, chưa so sánh đối chiếu với sinh viên các khối ngành kỹ thuật, công nghệ, y dược – những ngành có tính chất khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cao.
  • Mô hình chỉ đo lường “ý định khởi nghiệp” (trạng thái nhận thức) tại thời điểm khảo sát, chưa theo dõi được hành vi khởi nghiệp thực tế của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản chỉ ra:

  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát và áp dụng phương pháp chọn mẫu xác suất tại nhiều trường đại học trên các địa bàn khác nhau.
  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các khối ngành kỹ thuật, xã hội, công nghệ để thực hiện nghiên cứu so sánh liên ngành.
  • Bổ sung các biến số trung gian, biến điều tiết hoặc thực hiện nghiên cứu theo thời gian (longitudinal study) để kiểm chứng mức độ chuyển hóa từ ý định sang hành động thành lập doanh nghiệp thực tế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên thuộc các chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Marketing, Kinh tế học khi thực hiện khóa luận tốt nghiệp hoặc nghiên cứu khoa học liên quan đến hành vi và ý định khởi nghiệp.

Nội dung của đề tài mang lại giá trị tham khảo ở các điểm:

  • Bảng thang đo chi tiết 33 biến quan sát (Bảng 3.6) được chuẩn hóa và kế thừa từ các tác giả uy tín (Linán & Chen, Lüthje & Franke, Haris et al., Autio et al.), có thể ứng dụng trực tiếp cho các nghiên cứu khảo sát thái độ và ý định hành vi.
  • Quy trình nghiên cứu định lượng rõ ràng, từ bước kiểm định sơ bộ ($n = 50$) đến nghiên cứu chính thức ($n = 200$), kèm các tiêu chuẩn kiểm định Cronbach's Alpha, EFA và hồi quy tuyến tính trên SPSS.
  • Cung cấp cơ sở thực tiễn cho ban giám hiệu các trường đại học khối kinh tế trong việc hoạch định chính sách đào tạo, xây dựng câu lạc bộ khởi nghiệp và thiết kế các chương trình ươm tạo doanh nghiệp sinh viên.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng các lý thuyết nền tảng nào để xây dựng mô hình nghiên cứu?
Đề tài dựa trên hai lý thuyết chính: Thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) giải thích ý định qua thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi; và Thuyết Sự kiện khởi nghiệp (SEE) của Shapero & Sokol (1982) giải thích quyết định khởi nghiệp thông qua cảm nhận về tính khả thi, cảm nhận về sự mong muốn cùng các nhân tố biến cố (nhân tố đẩy và nhân tố kéo).

Cỡ mẫu của nghiên cứu được xác định như thế nào và khảo sát đối tượng nào?
Nghiên cứu thực hiện qua hai giai đoạn: khảo sát sơ bộ với 50 sinh viên và khảo sát chính thức với 200 mẫu hợp lệ (trên tổng số 220 phiếu phát ra). Cỡ mẫu được xác định theo nguyên tắc của Hair et al. (tối thiểu 5 quan sát cho 1 biến đo lường; mô hình có 33 biến quan sát, yêu cầu tối thiểu 165 mẫu). Đối tượng khảo sát là sinh viên khối ngành kinh tế tại 5 trường đại học trên địa bàn TP.HCM, cân đối giữa trường công lập và tư thục.

Thang đo của các biến nghiên cứu sơ bộ đạt độ tin cậy ra sao?
Tại bước nghiên cứu sơ bộ ($n = 50$), toàn bộ 7 thang đo đều đạt hệ số Cronbach's Alpha $> 0,6$ và hệ số tương quan biến - tổng $> 0,3$: Đặc tính cá nhân đạt cao nhất ($\alpha = 0,901$), Cảm nhận tính khả thi ($\alpha = 0,872$), Môi trường giáo dục ($\alpha = 0,861$), Tài chính ($\alpha = 0,859$), Thái độ với khởi nghiệp ($\alpha = 0,857$), Chuẩn mực chủ quan ($\alpha = 0,816$), và Ý định khởi nghiệp đạt $\alpha = 0,720$.

Yếu tố nào có tác động mạnh nhất và yếu nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên?
Theo kết quả phân tích hồi quy được tóm tắt trong khóa luận, cả 6 biến độc lập đều tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp. Trong đó, yếu tố có tác động mạnh nhất là Thái độ với khởi nghiệp ($A$) với $\beta = 0,109$, và yếu tố có tác động thấp nhất là Tài chính ($F$) với $\beta$ tiệm cận 0.

Nghiên cứu khắc phục khoảng trống gì so với các công trình đi trước tại Việt Nam?
Khóa luận chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đó tại Việt Nam thường tiếp cận đơn lẻ: hoặc chỉ tập trung vào môi trường bên ngoài (như nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy năm 2015), hoặc chỉ tập trung vào tố chất cá nhân bên trong (như nghiên cứu của Lý Thục Hiền năm 2010). Đề tài này tích hợp đồng thời cả hai nhóm yếu tố bên trong (thái độ, tính khả thi, đặc tính cá nhân) và bên ngoài (môi trường giáo dục, chuẩn mực chủ quan, tài chính) để giải thích ý định khởi nghiệp một cách toàn diện hơn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thị Diễm Trinh đã hoàn thành việc xác định và đo lường thực nghiệm 6 yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối kinh tế tại TP.HCM dựa trên khung lý thuyết TPB và SEE. Phương pháp nghiên cứu định lượng được tiến hành qua hai giai đoạn trên phần mềm SPSS 20.0, kiểm định độ tin cậy thang đo 33 biến quan sát và phân tích hồi quy trên cỡ mẫu 200 sinh viên. Kết quả khẳng định vai trò chi phối hàng đầu của nhân tố Thái độ với khởi nghiệp, đồng thời cung cấp hệ thống hàm ý quản trị thực tế nhằm giúp các trường đại học và cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách hỗ trợ phong trào khởi nghiệp sinh viên.