CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày sơ lược về lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cũng được chỉ rõ nhằm làm tiền đề cho các chương sau. Tiếp theo, chương 2 sẽ đi vào phần cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về ý định khởi nghiệp 2.1 Khái niệm về khởi nghiệp 2.1 Khởi nghiệp (Entrepreneurship) Khái niệm “Khởi nghiệp” được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm và nghiên cứu trên mọi yếu tố tác động đến khởi nghiệp.
Trong thế kỷ 20, sự hiểu biết về tinh thần khởi nghiệp có được nhờ công của nhà kinh tế học Joseph Schumpeter vào những năm 1930 và các nhà kinh tế học người Áo khác như Carl Menger, Ludwig von Mises và Friedrich von Hayek. Tinh thần khởi nghiệp được ông Schumpeter gọi là "cơn lốc của sự hủy diệt sáng tạo" để thay thế toàn bộ hoặc một phần những nhược điểm trong thị trường và ngành, đồng thời tạo ra các sản phẩm mới bao gồm cả các mô hình kinh doanh mới (Schumpeter, 1934). Trên quan điểm đó, Onuoha (2007) đã đưa ra một định nghĩa rõ ràng về Khởi nghiệp là “hoạt động thành lập các tổ chức mới hoặc hồi sinh các tổ chức đã trưởng thành, đặc biệt là các doanh nghiệp mới nói chung để đáp ứng các cơ hội đã được xác định”. Knight (1921) và Drucker (1970) định nghĩa khởi nghiệp theo một đặc điểm khác là “Khởi nghiệp là chấp nhận rủi ro”, cùng với quan điểm đó Onuoha (2007) cũng nhấn mạnh về việc cân nhắc cơ hội để người khởi nghiệp có thể nhận ra và phản ứng với những rủi ro có thể xảy ra.
Khởi nghiệp được xác định là hành vi quản lý, khai thác nguồn cơ hội có thể tin cậy được để tạo ra kết quả vượt ra ngoài mong đợi của chính mình và trải qua 3 giai đoạn bao gồm hình thành, tạo dựng ý tưởng đến thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp (Indarti, 2004).2 Người doanh nhân (Entrepreneur) Theo Schumpeter (1934), “doanh nhân” là người sẵn sàng và có khả năng chuyển đổi một ý tưởng hoặc phát minh mới thành một sự đổi mới thành công. Trên quan điểm của ông Ajay Bam, một giảng viên tại Trung tâm Doanh nhân Lester tại Đại học 9 California, Trường Kinh doanh Marshall của Berkeley cho rằng “Doanh nhân là hành trình khám phá cơ hội và quản lý rủi ro để tạo ra giá trị lợi nhuận và hoặc lợi ích xã hội”. Cùng quan điểm đó, Merriam và cộng sự đã đưa ra quan điểm doanh nhân là “một người bắt đầu kinh doanh và sẵn sàng chấp nhận rủi ro thua lỗ để kiếm tiền” và người khởi nghiệp là “một giám đốc điều hành công ty, người phát triển các doanh nghiệp mới trong tập đoàn” (Merriam, 2009). Mitton (1989) đã mô tả đặc điểm tâm lý nhất định của các doanh nhân như cam kết với công việc, nhu cầu kiểm soát toàn bộ và thích sự không chắc chắn và thách thức.
Với quan điểm này, Kirzner (1983) coi doanh nhân như một người cân bằng thụ động, còn Schultz (1975) nói rằng doanh nhân có khả năng đối phó với tình trạng mất cân bằng.2 Khái niệm về ý định khởi nghiệp (Entrepreneurial Intention – EI) 2.1 Khái niệm ý định Theo Ajzen, ý định hành vi là hành động của con người được dẫn dắt bởi sự cân nhắc 03 yếu tố: niềm tin vào hành vi, niềm tin vào chuẩn mực và niềm tin vào sự kiểm soát (Ajzen, 2002). Các niềm tin này có ảnh hưởng cùng chiều với ý định thực hiện hành vi. Trong đề tài này, tác giả sẽ nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng của sinh viên ngành kỹ thuật tại IUH.2 Khái niệm ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp được xem là có khả năng dự đoán hành vi khởi nghiệp tốt nhất (Ajzen, 1991; Ajzen, 1980). Ajzen cũng đã mô tả rằng quyết định thành lập một công ty mới được cho là đã được lên kế hoạch trong một thời gian và do đó có ý định khởi nghiệp đã hình thành từ trước đó (Ajzen, 1991).
Rosli và Sidek (2013) phát biểu rằng ý định khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành các hoạt động khởi nghiệp kinh doanh và khả năng trở thành một doanh nhân thực sự. Ý định khởi nghiệp sẽ là viên gạch đầu tiên trong sự phát triển kinh doanh và đôi khi cũng là quá trình lâu dài của sự sáng tạo liều lĩnh và mạo hiểm (Lee & Wong, 2004). Cùng trên quan điểm đó, Kolvereid (1996) cho rằng ý định khởi nghiệp nhằm mục 10 đích khởi động, sau đó sẽ là tiền đề cần thiết để thực hiện các hành vi kinh doanh (Alain & Gailly, 2006). Ý định khởi nghiệp là cảm giác của việc có tổ chức của một người có nguồn gốc từ các yếu tố cá nhân, ngữ cảnh xã hội và thái độ làm việc mang tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới cho doanh nghiệp của mình.3 Tinh thần khởi nghiệp Như đã được chia sẻ từ trước của tác giả trong phần mở đầu về tinh thần khởi nghiệp, các nhà nghiên cứu có xu hướng đồng ý về các yếu tố như cơ hội, đổi mới, tổ chức, sáng tạo và chấp nhận rủi ro được dùng để đo lường mức độ của tinh thần khởi nghiệp.
Hisrich (2002) đã định nghĩa một cách chi tiết về tinh thần khởi nghiệp, đó quá trình tạo ra cái mới có giá trị thời gian và nỗ lực, cách giả định về rủi ro tài chính, kèm theo tâm linh và xã hội, và nhận được kết quả là phần thưởng của sự hài lòng và độc lập về tiền bạc của cá nhân. Quá trình hình thành ý định khởi nghiệp là một quá trình dài, luôn có điểm khởi đầu là hình thành hành vi khởi nghiệp, phản ánh qua mức độ quan tâm của một cá nhân tới một hành vi. Do đó, việc phân tích, tìm hiểu và đánh giá tinh thần khởi nghiệp ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp là vô cùng quan trọng trong việc giải thích sự hình thành ý định khởi nghiệp. Từ đó, có thể thiết lập các hành động, can thiệp để tác động, xây dựng và hình thành ý định khởi nghiệp, đặc biệt đối với sinh viên.
Các nhà khoa học đã có những nghiên cứu chứng minh nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định bắt đầu khởi nghiệp của sinh viên như giáo dục khởi nghiệp (Ayalew, 2020; Debarliev, 2020; Hahn et al, 2017), nhận thức kiểm soát hành vi khi bắt đầu khởi nghiệp, thái độ và đặc điểm cá nhân khi khởi nghiệp.3 Tầm quan trọng của khởi nghiệp đối với sự phát triển đất nước Khởi nghiệp là một trong những chủ đề nhận được sự quan tâm nhiều ở Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hội nhập mạnh mẽ với kinh tế thế giới. Năm 2016, chính phủ Việt Nam xác định đây là “năm quốc gia khởi nghiệp”. Giai đoạn 2017 - 2020 được xem là thời điểm chín muồi cho khởi nghiệp và sự ra đời của rất nhiều công ty khởi nghiệp khác nhau, và bắt đầu có những dấu ấn đậm nét tại Việt Nam. Theo Báo cáo 11 của Quỹ đầu tư ESP Capital và Cento Ventures năm 2019, hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam vươn lên đứng thứ ba trong số sáu quốc gia lớn nhất ASEAN, chỉ sau Indonesia và Singapore.
Lượng vốn đầu tư mạo hiểm của Việt Nam chiếm 17% tổng vốn đầu tư trong khu vực, tăng từ mức 5% cho cả năm 2018 (Quang Minh, 2020). Cụm từ “khởi nghiệp” đã được nêu rõ trong dự thảo văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 (năm 2016), trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ nhằm nhân rộng mô hình doanh nghiệp khởi nghiệp trong năm 2020 lên 02 triệu doanh nghiệp, sau đó nâng dần lên 05 triệu doanh nghiệp trong năm năm tới, con số gấp 10 lần hiện tại (VCCI, 2015). Như vậy, chủ trương của Đảng và Nhà nước rất rõ ràng, nhất quán trên tinh thần thúc đẩy môi trường khởi nghiệp, những chính sách, cơ chế nhằm hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp, chú trọng tới khởi nghiệp dựa trên nền tảng khoa học kỹ thuật công nghệ là đã và đang được ban hành và áp dụng từ năm 2016. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đưa nhiều hoạt động, nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp như các cuộc thi khởi nghiệp thường niên cho sinh viên, học sinh với các ý tưởng khởi nghiệp.
Những cuộc thi như thế này, chính là tạo tiền đề, động lực cho sự mở rộng và phát triển doanh nghiệp sau này.4 Các mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp 2.1 Mô hình Nhân khẩu học (Demographic Model) Theo Ashley-Cotleur et al., (2013) có một số yếu tố cá nhân thúc đẩy quyết định trở thành doanh nhân của một người. Chúng thường được phân loại thành các biến nhân khẩu học hoặc các nhân tố về thái độ, giá trị hoặc tâm lý. Trong tất cả các nghiên cứu, hầu hết các nhà nghiên cứu tin rằng doanh nhân sẽ có những điểm khác biệt với người không phải là doanh nhân (Indarti, 2004). McClelland et al., (1961) cũng đồng ý với quan điểm này về doanh nhân thường có chung một tập hợp các đặc điểm cá nhân nên họ đã cố gắng phân tích giải thích các yếu tố quyết định ý định khởi nghiệp bằng một nhóm các đặc điểm tính cách hoặc nhân khẩu học.
Theo nghĩa này, người ta cho rằng những người thích tạo dựng công việc kinh doanh của riêng mình có thể có những đặc điểm tính cách khác với những người chọn đi làm thuê (Kolvereid, 1996). Trong cách tiếp cận này, “nhu cầu đạt được”, “vị trí kiểm soát” và “xu hướng chấp 12 nhận rủi ro” có thể là những ví dụ về các đặc điểm tính cách được nghiên cứu phổ biến nhất của hành vi doanh nhân (Phan et al. Ba đặc điểm tính cách này thường gắn liền với hành vi của doanh nhân (Begley, 1987; Hornaday, 1971). Từ quan điểm này, doanh nhân được kỳ vọng sẽ có mức độ “cần đạt được”, “khả năng kiểm soát nội bộ” và “xu hướng chấp nhận rủi ro” cao hơn so với những người không phải là doanh nhân.
Một khía cạnh nghiên cứu khác về ý định khởi nghiệp liên quan đến những yếu tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi nghiệp bao gồm độ tuổi, giới tính, kinh nghiệm làm việc, tiếp thu truyền thống kinh doanh của gia đình, sự giáo dục và các yếu tố cá nhân (Delmar, 2000). Nếu nhóm những yếu tố riêng lẻ thành những yếu tố tổng quát ảnh hưởng đến tiềm năng khởi nghiệp thì có 3 yếu tố ảnh hưởng.