Tổng quan nghiên cứu

Làn sóng khởi sự kinh doanh trong kỷ nguyên số đang trở thành động lực then chốt cho sự tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. Theo Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Toàn cầu giai đoạn 2015 - 2016 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố, tỷ lệ nhận thức về cơ hội kinh doanh tại Việt Nam đạt mức 56,8%, tăng mạnh so với mức 39,4% của năm 2014. Đồng thời, tỷ lệ người trưởng thành có ý định khởi sự kinh doanh trong 3 năm tiếp theo đạt 22,3%. Số liệu từ Hội Tin học Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận đến tháng 4 năm 2017, toàn quốc đã có hơn 18.000 doanh nghiệp khởi nghiệp, trong đó công nghệ thông tin là lĩnh vực chiếm tỷ trọng dẫn đầu về số lượng dự án sáng tạo.

Mặc dù có đến 89% sinh viên tự đánh giá bản thân có tiềm năng kinh doanh và 80% có nguyện vọng lập nghiệp sau khi tốt nghiệp, số liệu khảo sát thực tế lại chỉ ra 66,6% sinh viên chưa từng tiếp cận các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp chính thống. Để giải quyết khoảng cách giữa tiềm năng và hành động thực tế, đề tài tập trung xác định và lượng hóa các yếu tố tác động đến ý định lập nghiệp của sinh viên công nghệ thông tin tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu được triển khai khảo sát thực địa từ tháng 7 năm 2017 đến tháng 11 năm 2017 với phạm vi thu thập dữ liệu tại các trường đại học trọng điểm trên địa bàn thành phố. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ thực nghiệm chuẩn xác, hỗ trợ các cơ sở đào tạo đại học và cơ quan quản lý nhà nước ban hành các chính sách ươm tạo thiết thực, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa đô thị trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng tích hợp hai mô hình kinh điển: Thuyết hành vi dự định của Ajzen công bố năm 1991 và Thuyết sự kiện khởi nghiệp của Shapero và Sokol công bố năm 1982. Thuyết hành vi dự định chỉ ra rằng ý định hành vi chịu sự chi phối trực tiếp từ thái độ cá nhân, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong khi đó, mô hình sự kiện khởi nghiệp nhấn mạnh sự tương tác giữa các yếu tố hoàn cảnh và hai trạng thái nhận thức trung gian là cảm nhận về sự mong muốn cùng tính khả thi của việc thành lập doanh nghiệp.

Mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm 6 biến độc lập tác động đến 1 biến phụ thuộc duy nhất là Ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa bao gồm: Công nghệ thông tin theo định nghĩa tại Nghị quyết 49/CP của Chính phủ ban hành năm 1993; Khởi nghiệp sáng tạo căn cứ theo Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017; và Ý định khởi nghiệp theo quan điểm của Krueger phát triển năm 1993 về cam kết thiết lập doanh nghiệp mới. Sáu nhân tố độc lập được cấu thành từ 30 biến quan sát, bao gồm: Nhận thức tính khả thi, Môi trường giáo dục tinh thần khởi nghiệp, Đặc điểm tính cách, Hỗ trợ khởi nghiệp, Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp và Tiếp cận tài chính.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Giai đoạn nghiên cứu định tính thực hiện thông qua thảo luận nhóm tập trung với 14 sinh viên năm cuối ngành công nghệ thông tin vào tháng 11 năm 2017 nhằm điều chỉnh từ ngữ và bổ sung thang đo Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp. Giai đoạn định lượng sơ bộ khảo sát 50 mẫu thử nghiệm để đánh giá độ tin cậy ban đầu của bảng hỏi với thang đo khoảng 5 mức độ.

Giai đoạn định lượng chính thức sử dụng công thức tính cỡ mẫu của Cochran với mức độ tin cậy 95%, sai số biên cho phép 5% và tỷ lệ ước lượng 50%, xác định quy mô mẫu tối thiểu là 385. Nhằm phòng ngừa tỷ lệ phiếu lỗi 10%, tác giả phát ra 424 phiếu khảo sát theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện phân bổ tại 7 trường đại học: Đại học Công nghệ Thông tin chiếm 29,41% với 124 mẫu; Đại học Khoa học Tự nhiên chiếm 27,15% với 115 mẫu; Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 11,31% với 48 mẫu; Đại học Tôn Đức Thắng chiếm 10,86% với 46 mẫu; Đại học Bách Khoa chiếm 8,15% với 35 mẫu; Đại học Ngoại ngữ - Tin học chiếm 6,79% với 29 mẫu và Đại học FPT chiếm 6,33% với 27 mẫu. Toàn bộ dữ liệu được phân tích trên phần mềm SPSS 20 thông qua hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA với phép trích Principal Axis Factoring và phép xoay Promax, phân tích hồi quy tuyến tính bội và kiểm định phương sai One-Way ANOVA.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng khẳng định toàn bộ 6 giả thuyết nghiên cứu đều đạt mức ý nghĩa thống kê cao với giá trị xác suất nhỏ hơn 0,05, cho thấy cả 6 yếu tố đều có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên công nghệ thông tin. Phương trình hồi quy tuyến tính chuẩn hóa ghi nhận hệ số xác định hiệu chỉnh R bình phương đạt trên 55%, phản ánh mức độ phù hợp chặt chẽ của tập dữ liệu khảo sát.

Mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập được sắp xếp theo thứ số hồi quy beta chuẩn hóa giảm dần như sau:

  • Nhận thức tính khả thi giữ vị trí tác động mạnh nhất với hệ số beta đạt 0,488, đóng góp tỷ trọng chi phối gần 40% tổng lực tác động của mô hình.
  • Môi trường giáo dục tinh thần khởi nghiệp xếp vị trí thứ hai với hệ số beta đạt 0,244.
  • Đặc điểm tính cách đứng vị trí thứ ba với hệ số beta đạt 0,199.
  • Hỗ trợ khởi nghiệp giữ vị trí thứ tư với hệ số beta đạt 0,130.
  • Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp đạt hệ số beta là 0,121.
  • Tiếp cận tài chính có mức độ tác động thấp nhất với hệ số beta đạt 0,080.

Đồng thời, kiểm định Independent T-test và One-Way ANOVA với độ tin cậy 95% khẳng định không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định khởi nghiệp xét theo các biến nhân khẩu học gồm giới tính, bậc học và cơ sở đào tạo giữa 7 trường đại học.

Thảo luận kết quả

Mức độ tác động áp đảo của biến Nhận thức tính khả thi với trọng số 0,488 hoàn toàn phù hợp với đặc thù của sinh viên ngành công nghệ thông tin. Nhóm sinh viên kỹ thuật chỉ hình thành ý định khởi nghiệp khi họ tự tin vào năng lực lập trình, làm chủ công nghệ và nhìn thấy khả năng thương mại hóa rõ ràng của sản phẩm phần mềm. Kết quả này tương đồng với các phát hiện thực nghiệm của Haris và cộng sự năm 2016 tại Malaysia và Bùi Huỳnh Tuấn Duy năm 2011 tại Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh.

Yếu tố Môi trường giáo dục tinh thần khởi nghiệp đạt hệ số tác động 0,244, khẳng định vai trò kiến tạo nền tảng của các hoạt động ngoại khóa, vườn ươm học đường và chương trình đào tạo thực tiễn. Đáng chú ý, Tiếp cận tài chính chỉ đạt hệ số beta 0,080, chứng minh rằng nguồn vốn không phải là rào cản tiên quyết đối với các dự án công nghệ giai đoạn hạt giống, bởi các sản phẩm kỹ thuật số ban đầu chủ yếu dựa vào chất xám và hạ tầng điện toán đám mây linh hoạt. Trong các báo cáo trực quan, mức độ phân bổ trọng số này được mô tả sinh động qua biểu đồ thanh ngang so sánh hệ số beta và sơ đồ đường dẫn cấu trúc mô hình hồi quy, giúp người đọc nhận diện ngay sự chênh lệch giữa yếu tố năng lực nội tại và nguồn lực tài chính bên ngoài.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ vào mức độ tác động của 6 nhân tố, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp thực tiễn có tính liên kết chặt chẽ giữa nhà trường, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức tính khả thi và kỹ năng thực chiến cho sinh viên. Các trường đại học phối hợp cùng Trung tâm Khởi nghiệp Đổi mới Sáng tạo Saigon Innovation Hub triển khai các xưởng ươm tạo kỹ thuật, hỗ trợ tối thiểu 30% dự án sinh viên hoàn thiện sản phẩm mẫu khả dụng trong vòng 12 tháng học tập. Giảng viên cần định hướng sinh viên tham gia giải quyết các bài toán kinh doanh thực tế từ doanh nghiệp đối tác nhằm tăng cường sự tự tin vào năng lực vận hành dự án.

Thứ hai, chuẩn hóa chương trình giáo dục tinh thần khởi nghiệp công nghệ. Ban Giám hiệu các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh cần đưa môn học Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp thành học phần bắt buộc 3 tín chỉ trong khung chương trình đào tạo giai đoạn 2018 - 2020. Mục tiêu đạt 100% sinh viên năm ba và năm tư được tiếp cận kiến thức quản trị dự án công nghệ, đăng ký sở hữu trí tuệ và xây dựng mô hình kinh doanh tinh gọn.

Thứ ba, rèn luyện đặc điểm tính cách và tinh thần chấp nhận rủi ro. Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên các trường cần duy trì định kỳ 4 cuộc thi Hackathon và Demo Day mỗi năm, thu hút trên 500 lượt sinh viên tham gia thử thách phát triển phần mềm liên tục trong 48 giờ. Môi trường cạnh tranh lành mạnh giúp tôi luyện bản lĩnh đương đầu với thất bại và khát vọng thành đạt của kỹ sư tương lai.

Thứ tư, mở rộng mạng lưới cố vấn chuyên gia và cơ chế tài trợ vốn hạt giống. Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục mở rộng mạng lưới 145 chuyên gia cố vấn khởi nghiệp, phối hợp các hiệp hội ngành nghề và quỹ đầu tư thiên thần cấp gói tài trợ hạt giống từ 50 đến 100 triệu đồng cho ít nhất 20 dự án công nghệ xuất sắc của sinh viên mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Sinh viên và các nhóm sáng lập công nghệ trẻ: Nắm bắt các tiêu chí đánh giá tính khả thi, định vị điểm mạnh của bản thân về kỹ năng công nghệ và chủ động tham gia các khóa rèn luyện tư duy kinh doanh để biến ý tưởng phần mềm thành doanh nghiệp thực thụ.

  2. Ban Giám hiệu, Trưởng khoa và Giảng viên các trường đại học khối kỹ thuật: Sử dụng kết quả nghiên cứu làm căn cứ khoa học để đổi mới đề cương chi tiết học phần, thiết kế không gian sáng tạo và xây dựng các chương trình liên kết vườn ươm doanh nghiệp sát với nhu cầu thực tế của sinh viên.

  3. Nhà quản lý vườn ươm và các cơ quan hoạch định chính sách: Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Khởi nghiệp, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Khoa học và Công nghệ có thêm dữ liệu thực chứng để phân bổ nguồn kinh phí tài trợ, tối ưu hóa các chương trình đào tạo giảng viên nguồn và nâng cao hiệu quả thương mại hóa sản phẩm công nghệ.

  4. Học viên cao học và chuyên gia nghiên cứu quản trị kinh doanh: Kế thừa mô hình tích hợp giữa lý thuyết hành vi dự định và sự kiện khởi nghiệp cùng hệ thống bảng hỏi 30 biến quan sát đã được kiểm định độ tin cậy nghiêm ngặt để mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các ngành đào tạo khác.

Câu hỏi thường gặp

Yếu tố nào thúc đẩy mạnh mẽ nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên công nghệ thông tin?

Nhận thức tính khả thi là yếu tố chi phối mạnh mẽ nhất với hệ số hồi quy chuẩn hóa đạt 0,488. Sinh viên công nghệ thông tin chỉ thực sự quyết định lập nghiệp khi tự tin vào kiến thức kỹ thuật, năng lực lập trình và khả năng xây dựng giải pháp công nghệ có tính ứng dụng cao trên thị trường.

Tại sao nguồn vốn tài chính lại có mức độ tác động thấp nhất trong mô hình nghiên cứu?

Tiếp cận tài chính có hệ số tác động thấp nhất với mức 0,080 vì đặc thù giai đoạn đầu của dự án công nghệ thông tin chủ yếu đòi hỏi hàm lượng chất xám và kỹ năng phần mềm. Nhu cầu vốn lớn chỉ xuất hiện ở giai đoạn mở rộng thị trường, trong khi ở bước hình thành ý định, tài chính chưa phải rào cản quyết định.

Có sự khác biệt về ý định khởi nghiệp giữa sinh viên nam và nữ ngành công nghệ thông tin không?

Kết quả kiểm định Independent T-test với mức ý nghĩa 5% xác nhận không có sự khác biệt về ý định khởi nghiệp giữa sinh viên nam và nữ. Cả hai giới đều thể hiện mức độ đam mê công nghệ và mong muốn xây dựng doanh nghiệp riêng tương đương nhau khi có cùng nền tảng đào tạo chuyên môn.

Thang đo trong luận văn được đánh giá và chuẩn hóa bằng những kỹ thuật thống kê nào?

Nghiên cứu sử dụng hệ số Cronbach's Alpha để kiểm tra độ nhất quán nội tại của từng nhóm biến với hệ số đều vượt ngưỡng 0,701, kết hợp phân tích nhân tố khám phá EFA với chỉ số KMO đạt yêu cầu và tổng phương sai trích trên 50% nhằm loại trừ biến rác và khẳng định giá trị hội tụ của thang đo.

Các trường đại học cần ưu tiên giải pháp nào để nâng cao nhận thức tính khả thi cho sinh viên?

Nhà trường cần tích hợp các dự án thực tế của doanh nghiệp vào đồ án môn học, tổ chức các cuộc thi lập trình thực chiến và kết nối mạng lưới chuyên gia cố vấn kỹ thuật nhằm giúp sinh viên cọ xát thực tế, hoàn thiện sản phẩm mẫu và nâng cao năng lực quản trị dự án số.

Kết luận

  • Luận văn chuẩn hóa mô hình tích hợp 6 yếu tố tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành công nghệ thông tin tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Xác định Nhận thức tính khả thi đạt hệ số beta 0,488 là động lực cốt lõi chi phối quyết định lập nghiệp của sinh viên kỹ thuật.
  • Khẳng định tính đồng nhất về ý định khởi nghiệp không phân biệt theo giới tính, bậc học hay cơ sở đào tạo đại học.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp liên kết ba nhà gồm nhà trường, nhà nước và doanh nghiệp với lộ trình cụ thể giai đoạn 2018 - 2020.
  • Đề xuất mở rộng nghiên cứu theo phương pháp phân tích dọc và đo lường tỷ lệ chuyển hóa từ ý định sang hành vi khởi nghiệp thực tế trong giai đoạn 2020 - 2025.

Các cơ sở giáo dục đại học và cơ quan quản lý cần nhanh chóng ứng dụng khung giải pháp thực nghiệm của luận văn nhằm hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, thúc đẩy thanh niên công nghệ tự tin kiến tạo tương lai.