Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Phùng Ngọc Hồng có tiêu đề đầy đủ là: "Thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin ở Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh", chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã ngành đào tạo trình độ tiến sĩ khối ngành kinh tế), được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2023. Công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Chiến Thắng và TS. Lê Quang Bốn.

+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN CHUNG VỀ LUẬN ÁN                                                                        |
+---------------------+-----------------------------------------------------------------------------+
| Đề tài luận án      | Thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin ở Việt Nam: |
|                     | Nghiên cứu trường hợp Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh             |
+---------------------+-----------------------------------------------------------------------------+
| Tác giả             | Phùng Ngọc Hồng                                                             |
+---------------------+-----------------------------------------------------------------------------+
| Người hướng dẫn     | 1. TS. Nguyễn Chiến Thắng                                                   |
|                     | 2. TS. Lê Quang Bốn                                                         |
+---------------------+-----------------------------------------------------------------------------+
| Cơ sở đào tạo       | Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam            |
+---------------------+-----------------------------------------------------------------------------+
| Chuyên ngành        | Quản lý kinh tế                                                             |
+---------------------+-----------------------------------------------------------------------------+
| Năm hoàn thành      | 2023                                                                        |
+---------------------+-----------------------------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Xuất phát từ bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, các nguồn lợi thế truyền thống như tài nguyên thiên nhiên thô, nguồn lao động trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng và vốn giá rẻ không còn bảo đảm tính bền vững cho sự phát triển dài hạn. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hiện thực hóa các chủ trương lớn được thể chế hóa trong Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị. Trong đó, công nghệ thông tin (CNTT) được xác định là công cụ quan trọng hàng đầu để hình thành xã hội thông tin, rút ngắn tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Thực tiễn giai đoạn vừa qua cho thấy cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực CNTT tại Việt Nam phát triển nhanh chóng. Số liệu từ Báo cáo Fintech Việt Nam 2020 do Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) phối hợp với Tổ chức Doanh nghiệp toàn cầu Thụy Sĩ (Switzerland Global Enterprise) công bố cho thấy cả nước có khoảng 123.000 doanh nghiệp khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo vào năm 2020. Tuy nhiên, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo CNTT đang đối mặt với nhiều rào cản về cơ chế chính sách, rủi ro thị trường, khó khăn trong tiếp cận vốn đầu tư mạo hiểm và nhà đầu tư thiên thần, cũng như sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao và văn hóa khởi nghiệp chuyên nghiệp.

Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và là hai đầu tàu, cực tăng trưởng kinh tế của cả nước, tập trung số lượng lớn doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ. Mặc dù vậy, hạ tầng công nghệ và mức độ phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại hai đô thị này vẫn còn khoảng cách nhất định khi so sánh với một số trung tâm trong khu vực ASEAN như Singapore, Kuala Lumpur (Malaysia) hay Bangkok (Thái Lan). Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc thiếu vắng các công trình hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý kinh tế gắn liền với việc phân tích, so sánh thực chứng hai hệ sinh thái khởi nghiệp CNTT tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn chịu tác động của đại dịch Covid-19 và bối cảnh chuyển đổi số, từ đó đưa ra các luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách hỗ trợ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ thực trạng thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực CNTT ở Việt Nam thông qua nghiên cứu trường hợp điển hình tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và hàm ý chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực này đến năm 2030.

Để hoàn thành mục tiêu tổng quát, luận án thực hiện ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cùng kinh nghiệm thực tiễn quốc tế và trong nước về thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực CNTT; xác định nội dung thúc đẩy, nhân tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực CNTT tại Việt Nam thông qua việc khảo sát, so sánh trường hợp Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (chỉ rõ mặt mạnh, mặt yếu, lực đẩy và lực cản).
  3. Đề xuất phương hướng, hệ thống nhóm giải pháp và hàm ý chính sách cho Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo CNTT trong giai đoạn đến năm 2030.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:

  • Câu hỏi 1: Khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực CNTT ở Việt Nam qua tham chiếu tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có những mặt mạnh và mặt yếu gì? Lực đẩy và lực cản trong quá trình phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực CNTT ra sao?
  • Câu hỏi 2: Cần thực hiện giải pháp nào và làm thế nào để có những bước đi, cách thức chuyển biến trong tư duy lý luận và thực tiễn nhằm phát triển hiệu quả khởi nghiệp sáng tạo CNTT trong điều kiện Việt Nam thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế và hội nhập quốc tế?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin ở Việt Nam qua nghiên cứu trường hợp tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào địa bàn hai đô thị trung tâm là Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn 10 năm trở lại đây, trọng tâm là giai đoạn 2015 – 2020 gắn liền với việc thực hiện Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025" theo Quyết định số 844/QĐ-TTg năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ; tầm nhìn định hướng giải pháp đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả trình bày tại Chương 1 thông qua việc phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình khoa học trong nước và quốc tế theo ba nhóm chủ đề chính:

+--------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| TỔNG HỢP CÁC NHÓM CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐƯỢC ĐIỂM LUẬN                                                 |
+-------------------------------+---------------------------------------+--------------------------------+
| Nhóm chủ đề                   | Tác giả / Công trình tiêu biểu        | Nội dung / Trọng tâm phân tích |
+-------------------------------+---------------------------------------+--------------------------------+
| 1. Nhà đầu tư thiên thần và   | David Kidder (2017)                   | Bài học khởi sự kinh doanh     |
|    khởi nghiệp sáng tạo       | Phạm Văn Hải (2017)                   | Rào cản chính sách, thuế       |
|                               | Mai Lê Thúy Vân và cộng sự (2018)     | Nhân tố bên trong và bên ngoài |
|                               | Phan Hoàng Lan, Từ Minh Hiệu (2017)   | Pháp lý cho Angel Investor     |
|                               | Nguyễn Đặng Tuấn Minh (2017)          | Tư duy mô hình kinh doanh mới  |
|                               | Nhiều tác giả (2017 - Nxb Hồng Đức)   | Xây dựng văn hóa khởi nghiệp   |
|                               | Ngô Công Trường (2018)                | Quy trình và cẩm nang startup  |
|                               | ĐH Kinh tế - ĐHQGHN (2018)            | Thu hút vốn từ Israel          |
|                               | Dorie Clark (2018)                    | Khởi nghiệp trong kỷ nguyên số |
|                               | Trần Văn Bình và cộng sự (2019)       | Mạng lưới Angel Investor       |
|                               | ĐH An Giang (2019)                    | Hệ sinh thái cấp địa phương    |
|                               | Trần Đức Trung (2020)                 | Chính sách hỗ trợ tài chính    |
+-------------------------------+---------------------------------------+--------------------------------+
| 2. Đổi mới sáng tạo trong     | Phạm Ngọc Minh (2014)                 | Đổi mới công nghệ ở phía Nam   |
|    doanh nghiệp               | Đặng Lê Nguyên Vũ tuyển chọn (2015)   | Bộ sách 5 cuốn về kiến quốc    |
|                               | Lê Nam Hải, Hà Thị Hoài Thương (2011) | Sáng tạo dưới góc độ nhân cách |
|                               | Phùng Xuân Nhạ, Lê Quân (2013)        | Khảo sát 583 doanh nghiệp VN   |
|                               | Clayton M. Christensen (2018)         | Sáng tạo mang tính công phá    |
|                               | C. Christensen, M. Raynor (2018)      | Giải pháp cho đổi mới sáng tạo |
|                               | Peter Skarzynski, Rowan Gibson (2018) | Đổi mới từ năng lực cốt lõi    |
|                               | ĐH Kinh tế Quốc dân - ASPIRES1 (2019) | Kết nối đại học và doanh nghiệp|
+-------------------------------+---------------------------------------+--------------------------------+
| 3. Khởi nghiệp sáng tạo và    | Phạm Thế Dũng (2009)                  | Đổi mới công nghệ theo ngành   |
|    đổi mới công nghệ CNTT     | Phạm Tiến Hùng (2011)                 | Đo lường hành vi sáng tạo      |
|                               | Cục Thông tin KH&CN Quốc gia (2017)   | Vườn ươm, quỹ đầu tư, VSV     |
|                               | Trần Thùy Linh, Nguyễn Thị Hoa (2019) | Năng lực đổi mới sáng tạo      |
|                               | Nguyễn Thị Phương Ngọc (2020)         | Dự định khởi sự của sinh viên  |
|                               | Techfest Việt Nam (2019)              | Tài sản trí tuệ và truyền thông|
|                               | Bộ KH&CN, Phần Lan, IPP2 (2018, 2019) | Tài chính, giáo dục khởi nghiệp|
|                               | ĐH Hà Nội (2019)                      | Đào tạo nhân lực CMCN 4.0      |
|                               | Quyết định 844/QĐ-TTg (2016)          | Đề án hệ sinh thái quốc gia    |
+-------------------------------+---------------------------------------+--------------------------------+

Nhóm công trình về Nhà đầu tư thiên thần và khởi nghiệp

Tác giả điểm luận cuốn sách Thanh Niên Khởi Nghiệp (David Kidder, 2017; dịch giả Vũ Phương Thanh, Nxb Lao Động Xã Hội, 234 trang) về các bài học vượt qua thất bại khi khởi nghiệp của giới trẻ; bài viết của Phạm Văn Hải (Tạp chí Tài chính số 08/2017) về sự gia tăng số lượng startup và nhu cầu xây dựng chính sách ưu đãi thuế; nghiên cứu của Mai Lê Thúy Vân, Nguyễn Đạt Thịnh, Lê Trần Thùy Dương (Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, 2018) phân tích khung lý thuyết và các nhân tố bên trong/bên ngoài quyết định đến hoạt động đổi mới sáng tạo; công trình của Phan Hoàng Lan và Từ Minh Hiệu (Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 8/2017) phân tích nội hàm thuật ngữ Angel Investor và khoảng trống khung pháp lý tại Việt Nam.

Tác phẩm của Nguyễn Đặng Tuấn Minh (Khởi Nghiệp Đổi Mới Sáng Tạo – Tư Duy Và Công Cụ, Nxb Phụ Nữ, 2017) tiếp cận định nghĩa khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Steve Blank và Alexander Osterwalder về việc tìm kiếm mô hình kinh doanh có thể lặp lại và nhân rộng; cuốn sách Khởi Nghiệp - Dẫn Đầu Cuộc Đua (Nhiều tác giả, Nxb Hồng Đức, 2017) bàn về trách nhiệm xã hội và chuyển từ phong trào sang văn hóa khởi nghiệp; công trình Khởi Nghiệp Thông Minh Để Khởi Nghiệp Thành Công của Ngô Công Trường (Nxb Công Thương, tái bản 2018, 218 trang) tổng kết các bước chuẩn bị và cơ chế thoái vốn. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế của Trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN (2018) tổng kết kinh nghiệm thu hút vốn thiên thần từ mô hình "Quốc gia khởi nghiệp" Israel dựa trên ba yếu tố: con người, tiềm năng thị trường và môi trường chính sách. Cuốn sách Khởi Nghiệp 4.0 của Dorie Clark (Nxb Lao Động, 2018, 392 trang) trình bày lộ trình kinh doanh trên nền tảng số. Nhóm tác giả Trần Văn Bình, Lê Vũ Toàn, Nguyễn Vũ Khuyên (Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 12/2019) đưa ra 5 khuyến nghị nhằm phát triển mạng lưới nhà đầu tư thiên thần; Hội thảo tại Trường Đại học An Giang (2019) làm rõ mô hình khởi nghiệp nông nghiệp (Giving’s Farm); bài viết của Trần Đức Trung (Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 1/2020) kiến nghị tháo gỡ rào cản tiếp cận nguồn vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

Nhóm công trình về đổi mới sáng tạo

Tác giả tổng thuật bài viết của Phạm Ngọc Minh (Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 4/2014) về vai trò của công nghệ đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khu vực phía Nam trong các ngành lương thực, thực phẩm, cơ khí, nhựa; bộ sách Những cuốn sách đổi đời do Đặng Lê Nguyên Vũ tuyển chọn (Nxb Thế Giới, 2015), gồm Quốc Gia Khởi Nghiệp (Dan Senor & Saul Singer, 451 trang), Không Bao Giờ Là Thất Bại, Tất Cả Là Thử Thách (Chung Ju Yung, 326 trang), Khuyến Học (Fukuzawa Yukichi, 290 trang) và Nghĩ Giàu Làm Giàu (Napoleon Hill, 419 trang); nghiên cứu của Lê Nam Hải và Hà Thị Hoài Thương (Tạp chí Khoa học ĐH Huế, số 68/2011) về sáng tạo dưới góc độ nhân cách; công trình của Phùng Xuân Nhạ và Lê Quân (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, 2013) khảo sát thực chứng 583 doanh nghiệp Việt Nam về nhận thức, kết quả và nguồn lực đổi mới sáng tạo.

Về lý thuyết quốc tế, luận án điểm luận tác phẩm Thách Thức Sáng Tạo của Clayton M. Christensen (Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2018) giới thiệu Thuyết Sáng tạo công phá (Theory of Disruptive Innovation); tác phẩm Giải Pháp Cho Đổi Mới Và Sáng Tạo của Clayton M. Christensen và Michael E. Raynor (Nxb Thế Giới, 2018); cuốn sách Đổi Mới Từ Cốt Lõi của Peter Skarzynski và Rowan Gibson (Nxb Thế Giới, tái bản 2018); Hội thảo khoa học cấp quốc gia của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2019) trong khuôn khổ sáng kiến ASPIRES1 (hợp tác Việt Nam - Australia) về kết nối nghiên cứu khoa học với đổi mới sáng tạo trong khu vực tư nhân.

Nhóm công trình về khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực CNTT

Các đề tài và tài liệu được điểm luận gồm: Đề tài cấp Bộ của Phạm Thế Dũng (2009) về đổi mới công nghệ trong các ngành kinh tế; đề tài nghiên cứu của Phạm Tiến Hùng (2011, Mã số KT.02, Trường ĐH Kinh tế – ĐHQGHN) về đo lường hành vi sáng tạo; ấn phẩm chuyên đề của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (tháng 1/2017) phân tích mô hình Vietnam Silicon Valley (VSV), vườn ươm khởi nghiệp, kinh nghiệm Singapore; bài viết của Trần Thùy Linh và Nguyễn Thị Thanh Hoa (Tạp chí Công Thương, 6/2019) phân tích thực trạng vốn tự có và mối liên kết lỏng lẻo giữa viện - trường với doanh nghiệp; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Phương Ngọc (Học viện Khoa học Xã hội, 2020) về các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên tỉnh Quảng Ngãi với 2 thang đo mới; Hội thảo Techfest Việt Nam 2019 về bảo hộ tài sản trí tuệ và truyền thông; chuỗi Hội thảo do Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Ngoại giao Phần Lan và Dự án IPP2 tổ chức (2018, 2019) về cơ chế tài chính và giáo dục khởi nghiệp trong trường đại học; Hội thảo quốc tế của Trường Đại học Hà Nội (2019) về đào tạo nhân lực công nghệ số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI); các nội dung trọng tâm của Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025.

Vị trí và khoảng trống mà luận án giải quyết

Mặc dù các công trình trước đã nghiên cứu về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo ở các góc độ tâm lý, quản trị kinh doanh, chính sách tài chính chung hoặc xem xét hệ sinh thái khởi nghiệp ở phạm vi một tỉnh nhỏ, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện việc thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo chuyên biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin dưới góc độ quản lý kinh tế thông qua việc đặt hai đô thị đầu tàu là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh trong mối tương quan so sánh thực chứng. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc phân tích chính sách, nguồn vốn, nguồn nhân lực, hạ tầng thị trường và văn hóa khởi nghiệp giữa hai trung tâm này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các văn bản quy phạm pháp luật

Luận án xây dựng khung nghiên cứu dựa trên sự kết hợp giữa hệ thống pháp luật hiện hành và ba lý thuyết kinh tế học, quản lý học:

+--------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| HỆ THỐNG LÝ THUYẾT VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ SỬ DỤNG TRONG KHUNG PHÂN TÍCH                                      |
+------------------------------+-------------------------------------------------------------------------+
| Cơ sở pháp lý                | - Luật Đầu tư (2020): Xác lập quyền tự do đầu tư kinh doanh, nguyên tắc |
|                              |   đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, bảo hộ quyền sở hữu vốn.|
|                              | - Luật Khoa học và Công nghệ (2018): Khung pháp lý nâng cao năng lực    |
|                              |   nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu|
|                              | - Luật Công nghệ Thông tin (2010): Quy định cơ chế ưu tiên đầu tư phát  |
|                              |   triển hạ tầng số, công nghiệp CNTT và nguồn nhân lực công nghệ cao.   |
|                              | - Nghị quyết số 52-NQ/TW (2019) & Quyết định số 844/QĐ-TTg (2016).       |
+------------------------------+-------------------------------------------------------------------------+
| Lý thuyết Chuỗi giá trị      | Michael Porter (1985): Phân tích hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ.   |
| (Value Chain Theory)         | Áp dụng theo nghĩa hẹp (nội bộ doanh nghiệp CNTT) và nghĩa rộng (mạng   |
|                              | lưới liên kết ngành, tạo giá trị gia tăng từ ý tưởng đến thị trường).   |
+------------------------------+-------------------------------------------------------------------------+
| Lý thuyết Cực tăng trưởng /  | François Perroux (1949), Albert O. Hirschman:                           |
| Phát triển không cân đối     | Sự phát triển không dàn đều mà tập trung tại các cực/trung tâm tăng     |
| (Unbalanced Growth)          | trưởng nhằm tạo lực hút hướng tâm và lực lan tỏa ly tâm; ứng dụng vào   |
|                              | vai trò đầu tàu của Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.                          |
+------------------------------+-------------------------------------------------------------------------+
| Mô hình Đàn sếu bay          | Kaname Akamatsu: Quá trình bắt kịp trình độ công nghệ qua 4 giai đoạn,  |
| (Flying Geese Model)         | gợi mở việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và chuyển dịch cơ cấu ngành.|
+------------------------------+-------------------------------------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp: Thu thập, xử lý các chuỗi dữ liệu thứ cấp về số lượng doanh nghiệp thành lập mới, tỷ lệ giải thể, cơ cấu vốn đầu tư, nhân lực CNTT giai đoạn 2015 – 2020.
  • Phương pháp so sánh: Đánh giá điểm tương đồng, khác biệt, lợi thế và lực cản trong hệ sinh thái khởi nghiệp CNTT giữa Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; so sánh chỉ số đổi mới sáng tạo với các quốc gia ASEAN.
  • Phương pháp tham vấn chuyên gia và phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin định tính thông qua trao đổi với các nhà khoa học, nhà quản lý tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hiệp hội Truyền hình và Nội dung số, các sáng lập viên doanh nghiệp CNTT thành công.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu điều tra, khảo sát trực tiếp nhu cầu và rào cản của các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực CNTT tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Phân tích mô hình hoạt động của các trung tâm hỗ trợ, vườn ươm điển hình như Saigon Innovation Hub (SIHUB) tại TP. Hồ Chí Minh, Vietnam Silicon Valley (VSV), Topica Founder Institute tại Hà Nội.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê; báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp (NATEC), Báo cáo Fintech Việt Nam 2020 (SGE & NATEC), dữ liệu từ Topica Founder Institute 2021, tài liệu từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), OECD, Báo cáo Chỉ số kinh doanh toàn cầu (GEM).
  • Tư liệu học thuật: Khai thác tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Quân đội, Thư viện Trường Đại học Thương Mại, Thư viện Viện Thông tin Khoa học (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Trường Đại học Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội; các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Quản lý kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài, phân định thành ba nhóm nghiên cứu chính: nhóm về nhà đầu tư thiên thần và khởi nghiệp; nhóm về đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; nhóm về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực CNTT. Tác giả chỉ ra các khoảng trống tri thức: các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào lý thuyết đổi mới sáng tạo nói chung hoặc đánh giá chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa, thiếu các công trình nghiên cứu chuyên sâu về các công cụ chính sách quản lý kinh tế thúc đẩy khởi nghiệp công nghệ thông tin tại hai đô thị trung tâm là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm của một số quốc gia về thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin và bài học cho Việt Nam

Chương này làm rõ hệ thống khái niệm cốt lõi: định nghĩa khởi nghiệp sáng tạo (Startup), phân biệt giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa truyền thống (SMEs) với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo dựa trên tính đột phá công nghệ và khả năng tăng trưởng quy mô nhanh (scalability). Tác giả phân tích vai trò của khởi nghiệp CNTT trong nền kinh tế số và nhận diện các nhóm nhân tố tác động:

  • Nhân tố bên trong: Năng lực đội ngũ sáng lập, trình độ công nghệ, năng lực quản trị, tài sản trí tuệ và mô hình kinh doanh.
  • Nhân tố bên ngoài: Khung khổ thể chế, cơ chế tài chính – nguồn vốn (quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần), cơ sở hạ tầng CNTT, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh (vườn ươm, không gian làm việc chung Maker Space, Open Labs), văn hóa và tinh thần khởi nghiệp xã hội.

Chương 2 tổng kết kinh nghiệm thực tiễn từ 7 quốc gia và vùng lãnh thổ:

  1. Israel: Xây dựng hệ sinh thái quốc gia khởi nghiệp dựa trên sự gắn kết chặt chẽ giữa quân đội, viện nghiên cứu, trường đại học và cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính của chính phủ.
  2. Phần Lan: Mô hình hợp tác công - tư, vai trò tài trợ hạt giống từ các tổ chức như SITRA, Tekes và sự chuyển dịch linh hoạt sau tái cấu trúc tập đoàn công nghệ lớn.
  3. Thung lũng Silicon (Hoa Kỳ): Mạng lưới đầu tư mạo hiểm hoàn chỉnh, thị trường vốn linh hoạt, văn hóa chấp nhận thất bại và cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ nghiêm ngặt.
  4. Singapore: Các chương trình hỗ trợ vốn đối ứng của chính phủ, khung pháp lý thử nghiệm (sandbox), thu hút nhân tài và quỹ đầu tư quốc tế trở thành trung tâm công nghệ khu vực.
  5. Ấn Độ: Phát triển nguồn nhân lực lập trình viên quy mô lớn, chính sách Startup India và thúc đẩy các trung tâm công nghệ phần mềm (như Bangalore).
  6. Trung Quốc: Chiến lược đổi mới sáng tạo quốc gia, các khu công nghệ cao (Trung Quan Thôn), bảo trợ thị trường nội địa cho các nền tảng số và quỹ hướng dẫn đầu tư của chính phủ.
  7. Hàn Quốc: Vai trò của các trung tâm đổi mới kinh tế sáng tạo (CCEI), sự hỗ trợ từ chính phủ kết hợp với các tập đoàn kinh tế lớn (Chaebol) trong việc ươm tạo startup công nghệ.

Từ đó, luận án rút ra các bài học tham khảo cho Việt Nam về: hoàn thiện khung pháp lý cho quỹ đầu tư mạo hiểm, phát triển vườn ươm đại học, tài trợ vốn mồi và xây dựng văn hóa kinh doanh số.

Chương 3: Thực trạng thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin ở Việt Nam hiện nay qua phân tích trường hợp tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 trình bày các phân tích thực trạng dựa trên dữ liệu thứ cấp và kết quả khảo sát thực tế:

+-------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ MÔ HÌNH PHÂN TÍCH TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG 3                                      |
+-----------------------+-------------------------------------------------------------------------------+
| Bảng 2.1              | Dự báo quy mô thị trường trí tuệ nhân tạo trên thế giới                       |
| Bảng 2.2 & 2.3        | Hình thức huy động và vay vốn của doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST (2019-2020)   |
| Bảng 3.1              | Xếp hạng đổi mới của các nước ASEAN được chọn                                 |
| Bảng 3.2              | Tỷ lệ giải thể doanh nghiệp, doanh nghiệp thành lập mới qua các năm           |
| Bảng 3.3              | Khó khăn của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo                                |
| Bảng 3.4              | Đánh giá về việc nhận được sự hỗ trợ từ các chương trình chính sách           |
| Bảng 3.5 (trang 136)  | Bảng so sánh khởi nghiệp sáng tạo tại TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh           |
+-----------------------+-------------------------------------------------------------------------------+
| Sơ đồ & Hình ảnh      | - Hình 0: Khung phân tích vấn đề nghiên cứu (trang 15)                        |
|                       | - Mô hình doanh nghiệp công nghệ; Mô hình thương mại điện tử                  |
|                       | - Bản đồ Fintech Việt Nam 2021; Sơ đồ hệ sinh thái khởi nghiệp 2019 - 2020    |
|                       | - Hệ sinh thái KH&CN Hà Nội (Topica Founder Institute, 2021); Mô hình VSV     |
|                       | - Hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST tại TP. Hồ Chí Minh (SIHUB)                   |
+-----------------------+-------------------------------------------------------------------------------+

Nội dung phân tích thực trạng tập trung vào các khía cạnh:

  • Hệ thống chính sách và thể chế: Triển khai Đề án 844/QĐ-TTg, các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; đánh giá những điểm nghẽn trong thủ tục thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân, việc tiếp cận đất đai tại các khu công nghệ cao và chính sách thuế.
  • Cơ chế tài chính và nguồn vốn: Phân tích các kênh huy động vốn (vốn tự có, gia đình, nhà đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư mạo hiểm trong nước và quốc tế). Khảo sát chỉ ra phần lớn startup CNTT vẫn phụ thuộc vào vốn tự có trong giai đoạn đầu, việc tiếp cận tín dụng ngân hàng gặp khó khăn do thiếu tài sản bảo đảm hữu hình.
  • Nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ: Tình trạng thiếu hụt nhân lực CNTT trình độ cao (đặc biệt trong các lĩnh vực mới như Trí tuệ nhân tạo - AI, Công nghệ tài chính - Fintech); thực trạng phát triển các không gian làm việc chung, Maker Space, Open Labs.
  • So sánh hệ sinh thái khởi nghiệp giữa Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (Bảng 3.5):
    • Hà Nội: Lợi thế về mạng lưới các trường đại học, viện nghiên cứu lớn, nguồn cung kỹ sư công nghệ dồi dào, sự hiện diện của các cơ quan quản lý vĩ mô; tuy nhiên mức độ năng động thương mại hóa và kết nối vốn đầu tư quốc tế còn chậm hơn.
    • TP. Hồ Chí Minh: Môi trường kinh doanh năng động, thị trường tiêu dùng lớn, tính liên kết thị trường và thu hút vốn đầu tư tư nhân/quốc tế cao hơn (thông qua các đầu mối như SIHUB), số lượng startup thương mại điện tử, Fintech phát triển mạnh; tuy nhiên áp lực chi phí mặt bằng và cạnh tranh lao động cao.

Chương 4: Các giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin giai đoạn hiện nay

Chương 4 phân tích bối cảnh quốc tế (tác động của CMCN 4.0, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP) và bối cảnh trong nước sau đại dịch Covid-19, nhận diện thời cơ và thách thức. Từ các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, tác giả đề xuất 7 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách: Rà soát, tháo gỡ vướng mắc trong Luật Đầu tư, Luật Khoa học và Công nghệ; thiết lập khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các mô hình kinh doanh CNTT mới (Fintech, AI, kinh tế nền tảng); đơn giản hóa thủ tục tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài cho startup.
  2. Hỗ trợ tài chính và nguồn vốn: Hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm có vốn mồi của nhà nước kết hợp nguồn lực tư nhân; xây dựng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân đối với các nhà đầu tư thiên thần; tạo điều kiện sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm vay vốn.
  3. Đẩy mạnh tư vấn và hỗ trợ kinh doanh: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp (như SIHUB tại TP.HCM và các vườn ươm tại Hà Nội); cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý, kế toán, quản trị tài sản trí tuệ và bảo hộ bản quyền phần mềm.
  4. Thúc đẩy hạ tầng và thị trường: Phát triển hệ thống không gian sáng chế (Maker Space), xưởng thực nghiệm (Open Labs); mở rộng thị trường mua sắm công của chính quyền địa phương (Hà Nội, TP.HCM) đối với các giải pháp CNTT của startup trong nước.
  5. Phát huy nhân tố con người: Đổi mới chương trình đào tạo CNTT tại các trường đại học gắn với nhu cầu thị trường; tăng cường kỹ năng khởi sự kinh doanh, quản trị và kỹ năng mềm cho lập trình viên; thu hút chuyên gia công nghệ người Việt ở nước ngoài.
  6. Xây dựng văn hóa khởi nghiệp mới: Lan tỏa tinh thần doanh nhân khởi nghiệp sáng tạo có trách nhiệm xã hội; chấp nhận rủi ro và thất bại trong nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ mới; chuyển từ phong trào sang xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo bền vững.
  7. Nhóm giải pháp mềm: Đẩy mạnh truyền thông số, kết nối mạng lưới cố vấn (mentoring), tổ chức các sự kiện ngày hội khởi nghiệp công nghệ thường niên để kết nối doanh nghiệp với quỹ đầu tư quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận quản lý kinh tế về thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin, phân định rõ nét đặc thù của startup công nghệ so với doanh nghiệp vừa và nhỏ truyền thống dựa trên Thuyết Chuỗi giá trị (Michael Porter) và Thuyết Cực tăng trưởng (François Perroux, Albert O. Hirschman).
  • Xây dựng khung phân tích đánh giá hoạt động thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo CNTT bao gồm hệ thống các nhân tố cấu thành: chính sách thể chế, tài chính nguồn vốn, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực và văn hóa khởi nghiệp trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng phát triển và mức độ đáp ứng của các chính sách hỗ trợ đối với cộng đồng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo CNTT tại Việt Nam giai đoạn 2015 – 2020.
  • Thực hiện so sánh đối chiếu thực trạng hệ sinh thái khởi nghiệp CNTT giữa hai đầu tàu kinh tế là Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ rõ thế mạnh, điểm nghẽn và tính đặc thù của từng địa bàn.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị chính sách có tính ứng dụng dành cho các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ KH&CN, Bộ TT&TT, Bộ KH&ĐT) và chính quyền TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh nhằm thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo CNTT hướng đến mục tiêu năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung phạm vi nghiên cứu không gian vào hai thành phố lớn (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh), do đó chưa bao quát đầy đủ thực trạng khởi nghiệp công nghệ tại các vùng kinh tế trọng điểm khác (như Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng). Thời gian thu thập dữ liệu tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2015 – 2020 gắn với Đề án 844, các biến động kinh tế vĩ mô toàn cầu trong giai đoạn phục hồi sau năm 2022 chủ yếu được phân tích dưới dạng bối cảnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực chứng sang các trung tâm khởi nghiệp vệ tinh; nghiên cứu sâu tác động của các khung thể chế thử nghiệm (sandbox) đối với từng phân khúc chuyên biệt như Trí tuệ nhân tạo (AI), Công nghệ tài chính (Fintech) và Dữ liệu lớn (Big Data).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng:

  • Các nhà hoạch định chính sách: Cán bộ quản lý tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Sở KH&CN và Sở TT&TT tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh trong việc xây dựng cơ chế hỗ trợ tài chính, thuế, thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm và hoàn thiện cơ chế thử nghiệm công nghệ.
  • Các tổ chức ươm tạo và mạng lưới khởi nghiệp: Ban quản lý vườn ươm, trung tâm hỗ trợ đổi mới sáng tạo (như SIHUB, VSV), các nhà đầu tư thiên thần trong việc định hướng cố vấn và kết nối nguồn vốn.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo khung lý thuyết, phương pháp tiếp cận nghiên cứu trường hợp so sánh và hệ thống tài liệu tổng quan về quản lý kinh tế, kinh tế số và khởi nghiệp sáng tạo.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án là ai và công trình được bảo vệ tại cơ sở đào tạo nào?
Tác giả luận án là nghiên cứu sinh Phùng Ngọc Hồng. Luận án tiến sĩ kinh tế ngành Quản lý kinh tế được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Chiến Thắng và TS. Lê Quang Bốn.

2. Luận án sử dụng các lý thuyết kinh tế và quản lý nào làm nền tảng phân tích?
Luận án vận dụng ba lý thuyết chính: Lý thuyết Chuỗi giá trị (Value Chain Theory) của Michael Porter (1985), Lý thuyết Cực tăng trưởng / Phát triển không cân đối (Unbalanced Growth) của François Perroux (1949) và Albert O. Hirschman, cùng Mô hình Đàn sếu bay (Flying Geese Model) của Kaname Akamatsu; kết hợp với việc phân tích các văn bản luật như Luật Đầu tư (2020), Luật Khoa học và Công nghệ (2018), Luật Công nghệ Thông tin (2010) và Nghị quyết số 52-NQ/TW (2019).

3. Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn như thế nào?
Về không gian, đề tài nghiên cứu trường hợp điển hình tại hai đô thị đầu tàu kinh tế là Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Về thời gian, luận án tập trung khảo sát giai đoạn 10 năm trở lại đây, trọng tâm là giai đoạn 2015 – 2020 (gắn với Đề án 844/QĐ-TTg năm 2016), đồng thời xây dựng định hướng giải pháp đến năm 2030.

4. Luận án đã tham khảo kinh nghiệm quốc tế về khởi nghiệp sáng tạo từ những quốc gia nào?
Luận án phân tích mô hình và bài học kinh nghiệm từ 7 quốc gia và vùng lãnh thổ: Israel (mô hình quốc gia khởi nghiệp), Phần Lan (chính sách đổi mới và quỹ hạt giống), Thung lũng Silicon - Hoa Kỳ (mạng lưới đầu tư mạo hiểm và văn hóa mạo hiểm), Singapore (trung tâm kết nối vốn và cơ chế sandbox), Ấn Độ (phát triển nhân lực phần mềm), Trung Quốc (khu công nghệ cao và quỹ định hướng của nhà nước), và Hàn Quốc (sự kết hợp giữa chính phủ, trung tâm CCEI và các tập đoàn kinh tế).

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo CNTT tại Việt Nam?
Luận án đề xuất 7 nhóm giải pháp: (1) Hoàn thiện cơ chế, chính sách và khung pháp lý thử nghiệm (sandbox); (2) Nhóm giải pháp hỗ trợ tài chính, quỹ đầu tư mạo hiểm và nhà đầu tư thiên thần; (3) Đẩy mạnh hoạt động tư vấn và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh; (4) Thúc đẩy hạ tầng kỹ thuật (Maker Space, Open Labs) và mở rộng thị trường; (5) Phát triển nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao; (6) Xây dựng văn hóa khởi nghiệp có trách nhiệm xã hội; (7) Các nhóm giải pháp mềm về truyền thông số và kết nối mạng lưới cố vấn (mentoring).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phùng Ngọc Hồng là công trình nghiên cứu hệ thống về quản lý kinh tế đối với hoạt động thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin tại Việt Nam. Thông qua việc kết hợp các khung lý thuyết kinh tế vĩ mô với nghiên cứu thực chứng so sánh giữa hai đầu tàu kinh tế là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2020, luận án đã làm rõ bức tranh thực trạng, chỉ ra các điểm nghẽn về thể chế, vốn, nhân lực và hạ tầng thị trường. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất trong công trình cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế số, đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2030.