chương I đã định nghĩa DNNVV như sau: "Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người". Tiêu chí phân loại cụ thể theo bảng 1. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP [2] Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao động Số lao động Khu vực động vốn vốn I. Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng trở nghiệp và người đến đồng đến người đến trở xuống xuống thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II.
Công Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng trở nghiệp và người đến đồng đến người đến trở xuống xuống xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III.Thương Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên50 10 người 10 tỷ đồng trở mại và dịch người đến đồng đến 50 người đến trở xuống xuống vụ 50 người tỷ đồng 100 người Như vậy, DNNVV được xác định hoàn toàn theo các tiêu chí về quy mô mà không quan tâm đến hình thức sở hữu. So với định nghĩa về DNNVV của các nước trong khu vực và trên thế giới, định nghĩa DNNVV của Việt Nam có tính tổng quát, không đi sâu vào chi tiết loại hình, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và chưa phản ánh được thực chất về quy mô doanh nghiệp đối 11 với các ngành và lĩnh vực khác nhau. Việc xác định giới hạn các tiêu chí này có ý nghĩa rất quan trọng. Đó là cơ sở để xác định cơ chế quản lý với những chính sách ưu tiên thích hợp và xây dựng cơ cấu tổ chức, quản lý có hiệu quả đối với hệ thống các doanh nghiệp loại này.
Trong từng thời kỳ, các tiêu chí và tiêu chuẩn giới hạn có sự thay đổi cho phù hợp với đường lối, chính sách, chiến lược và khả năng hỗ trợ của nhà nước ở mỗi quốc gia. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa - DNNVV chiếm khoảng trên 90% tổng số doanh nghiệp của cả nuớc, chủ yếu thuộc khu vưc ngoài quốc doanh với nhiều hình thức ( doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp doanh). Đa số số liệu thống kê chủ yếu thống kê cho khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ít có số liệu điều tra riêng biệt cho toàn bộ các DNNVV - Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, tốc độ đổi mới công nghệ chậm, hạn chế về năng lực cán bộ và công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất kinh doanh. - Trình độ quản lý và tay nghề của nguời lao động còn hạn chế.
Tuy Việt Nam có lực luợng lao động dồi dào, có trình độ học vấn cao so với các nước có cùng trình độ phát triển, nhưng chủ yếu là lao động làm việc đơn giản, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề thấp, sức khỏe hạn chế, năng suất lao động không cao. - Sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ còn thấp. - Quản trị nội bộ của DNNVV còn yếu, nhất là quản lý tài chính, ý thức chấp hành các chế độ chính sách chưa cao, còn lúng túng trong việc liên kết, nhất là liên kết trong cùng một hội ngành nghề. Tính ưu việt và hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa a.
Tính ưu việt - DNNVV dễ khởi sự. Hầu hết các DNNVVchỉ cần một luợng vốn ít, số lao động không nhiều, diện tích mặt bằng nhỏ với các điều kiện làm việc đơn giản đã có thể bắt đầu kinh doanh ngay sau khi có ý tuởng kinh doanh. Loại hình doanh nghiệp này gần như không đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn ngay trong giai đoạn đầu. - Tính linh hoạt cao.Vì hoạt động với quy mô nhỏ cho nên hầu hết các DNNVV đều rất năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường.Trong một số trường hợp các DNNVV còn năng động trong việc đón đầu những biến động đột ngột của thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội, hay các dao động đột biến trên thị trường.
- Có lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống. So với các doanh nghiệp lớn thì DNNVV có lợi thế hơn trong việc khai thác, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống. Đó là khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả những nguồn lực đầu vào như lao động, tài nguyên hay vốn tại chỗ của từng địa phương. - DNNVV có lợi thế về sử dụng lao động.
Quan hệ lao động trong các DNNVV thường có tinh chất thân thiện, gần gũi hơn so với các doanh nghiệp lớn. Do đóng người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động viên, khuyến khích hơn trong công việc. Quan hệ giữa những người lao động và người sử dụng lao động trong các DNNVV khá chặt chẽ, khoảng cách giữa người sử dụng lao động và người lao động không lớn. - Tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp.
Do hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở các DNNVV vừa gọn nhẹ, linh hoạt, công tác điều hành mang tính trực tiếp. Những hạn chế - DNNVV thiếu các nguồn lực để thực hiện các ý tuởng kinh doanh lớn, hoặc các dự án đầu tư lớn, các dự án đầu tư công cộng. -DNNVV ít có các lợi thế trong cạnh tranh, quan hệ với ngân hàng. Nhiều DNNVV bị phụ thuộc rất nhiều vào các doanh nghiệp lớn trong quá trình phát triển nhờ về thương hiệu hàng hoá, thị trường, công nghệ, tài chính.
- Các DNNVV chịu nhiều loại rủi ro trong kinh doanh.Theo một nghiên cứu được thực hiện bởi Chương trình Phát triển Khu vực tư nhân Mekong, năm 2005, người ta thấy rằng trong một mẫu ngẫu nhiên gồm 300 doanh nghiệp được thành lập ở Hà Nội giai đoạn 2000-2002: 74% chắc chắn hoặc có thể đang hoạt động; 14% chắc chắn hoặc có thể đóng cửa, ngừng hoạt động; 16% không rõ trạng thái; và 6% chính thức đóng cửa.Và chỉ 1% trong tổng số mẫu nghiên cứu đã hoàn tất thủ tục đóng cửa doanh nghiệp một cách chính thức. - Hầu hết các DNNVV do ít vốn, không quan tâm đầy đủ đến việc bảo vệ môi trường hoặc khi nhiều DNNVV bị phá sản do hoạt động không hiệu quả gây ra sự thiếu tin tuởng của dân chúng. - Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ thường yếu kém, lạc hậu. Trình độ công nghệ, do phần lớn là các cơ sở thủ công "đi lên" hoặc có tiếp cận được khoa học, công nghệ nước ngoài thì cũng thuộc thế hệ lạc hậu.
- Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các DNNVV bị hạn chế rất nhiều. - Trình độ quản lý ở các DNNVV hạn chế. Đa số các chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo cơ bản, đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trường, về quản trị kinh doanh, họ quản lý bằng kinh nghiệm, thực tiễn là chủ yếu. - Các DNNVV có năng suất lao động và sức cạnh tranh kinh tế thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp lớn.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội DNNVV có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội, chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập, là khu vực doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển và đóng góp vào ngân sách nhà nước. Các DNNVV có vốn đầu tư ban đầu tuy không lớn nhưng được hình thành và phát triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, ở hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực; là khu vực khai thác và huy động các nguồn lực, tiềm năng, tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư và tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh hơn. Về khía cạnh kinh tế * Góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cũng như DNNVV ở tất cả các nước, DNNVV ở Việt Nam góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân, mỗi năm đóng góp khoảng 25% GDP cả nước. Các doanh nghiệp này đã cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hóa khác nhau đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước như trang thiết bị và linh kiện cần thiết cho các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp cũng như các hàng hóa tiêu dùng khác.
Việc phát triển các DNNVV sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế. * Thu hút vốn và khai thác các nguồn lực sẵn có trong dân cư Với ưu điểm tính chất nhỏ lẽ, dễ phân tán đi sâu vào các ngõ ngách và yêu cầu số lượng vốn ban đầu không nhiều cho nên các DNNVV có lợi thế trong việc huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư cũng như có khả năng tận dụng các tiềm năng về lao động, nguyên vật liệu và nguồn lực khác tại địa phương để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. 15 * Thúc đẩy sự phát triển của thị trường Do lợi thế năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, DNNVV có vai trò to lớn góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường, có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, thay đổi công nghệ góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường. Mặt khác, các DNNVV c ó thể Hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn kinh doanh một cách hiệu quả hơn như làm đại lý và vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn,cung cấp những bán thành phẩm hay nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp lớn hoặc thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị trường mà doanh nghiệp lớn khó có thể với tới để phân phối các sản phẩm của doanh nghiệp lớn.
Về khía cạnh xã hội *Tạo việc làm cho người lao động, góp phần giảm tỉ lệ thất nghiệp Các DNNVV không chỉ đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước mà còn giúp tạo ra hơn một triệu việc làm mới mỗi năm cho số lao động phần lớn chưa qua đào tạo; góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội…Hiện các doanh nghiệp này sử dụng trên 50% lao động xã hội.