Chương 1 Giới thiệu; Chương 2 trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về SMEs , khả năng tiếp cận vốn của các SMEs ; Chương 3 tác giả trình bày phần đánh giá khả năng tiếp cận vốn của SMEs tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Bến Tre thông qua kết quả thu thập từ bảng phỏng vấn 150 SMEs; Cuối cùng Chương 4 là kết luận và kiến nghị. 123doc 6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 2. Tổng quan về cơ sở lý thuyết Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs ). Doanh nghiệp nhỏ và vừa được viết tắt là SMEs (Small anh Medium enterprises) là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hoặc doanh thu.
Căn cứ vào quy mô, có thể chia DNNVV ra thành ba loại: Doanh nghiệp siêu nhỏ; Doanh nghiệp nhỏ; Doanh nghiệp vừa. Hiện nay ở các nước khác nhau, khái niệm SMEs được hiểu kh1c nhau, việc phân loại SMEs phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng và giới hạn bởi từng tiêu thức. Trên thế giới, việc xác định quy mô SME s chỉ mang tính tương đối, bởi nó chịu tác động của trình độ phát triển kinh tế, tính chất của ngành nghề, điều kiện phát triển của mỗi quốc gia hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Mặt khác trong ngành nghề khác nhau thì chỉ tiêu độ lớn của các tiêu thức cũng khác nhau.
Song nhìn chung SMEs được xác định dựa trên hai tiêu chí định tính và định lượng: Tiêu chí định tính: dựa trên các tiêu thức cơ bản như trình độ chuyên môn hóa, các nghiệp vụ tài chính, bộ máy quản lý, hình thức tổ chức doanh nghiệp. Các tiêu thức này có thể phản ánh đúng bản chât nhưng lại khó x1ac định trên thực tế nên thường được sử dụng để tham khảo khi phân loại SME s Tiêu chí định lượng: được xây dựng trên các chỉ tiêu như số lao động, tổng giá trị tài sản hay vốn cố định hoặc giá trị tài sản thực có của doanh nghiệp, tổng doanh thu hay lợi nhuận của SMEs, các tiêu chí định lượng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định quy mô doanh nghiệp. Và ở các thời điểm khác nhau thì các tiêu chí này cũng khác nhau giữa các ngành nghề mặc dù vẫn có yếu tố chung nhất định. Điều này ta có thể thấy rõ thông qua số liệu ở bảng 2.1: Tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước và vùng lãnh thổ.
Tiêu thức xác định Nước và vùng lãnh thổ Số lao động Tổng vốn hoặc giá trị tài sản Inđônêxia <100 <0,6 tỷ Rupi Xingapo <100 <499 triệu USD Thái Lan <100 <200 Bath Hàn Quốc <300 trong CN,XD <0,6 triệu USD <200 trong TM&DV <0,25 triệu USD Nhật Bản <100 trong bán buôn <30 triệu JPY <50 trong bán lẻ <10 triệu JPY EU <250 <27 triệu ECU Mêhicô <250 <7 triệu USD Mỹ <500 <20 triệu USD Nguồn: Giải pháp phát triển DNNVV Việt Nam – NXB CTQG 2002, tr2. Trong khi đó Ngân hàng thế giới cho rằng SMEs phải có ít nhất 2 trong 3 tiêu chí đó là số lượng nhân viên, tổng tài sản va doanh thu hàng năm của doanh nghiệp, cụ thể bảng 2.2: Các định nghĩa của Ngân hàng thế giới về SMEs. Quy mô Nhân viên Tài sản Doanh thu công ty hàng năm Vi mô <10 <$0,1 triệu <$0,1 triệu Nhỏ <50 <$3 triệu <$0,1 triệu Vừa <300 <$15 triệu <$0,1 triệu Nguồn: IFC, cẩm nang kiến thức dịch vụ Ngân hàng cho SME (2009). Mỗi quốc gia khác nhau khác nhau trên thế giới có những tiêu chí khác nhau để xác định DNNVV.
Tại Việt Nam tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được thể hiện trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ Định nghĩa DNNVV như sau: 123doc 8 DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể bảng 2.3: Phân loại DNNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP. Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp Khu vực siêu nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động nguồn động nguồn động vốn vốn I. Nông, lâm 10 người 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 từ trên nghiệp và trở xuống đồng trở người đến đến 100 200 đến thủy sản xuống 200 người tỷ đồng 300 người II. Công 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 từ trên 200 nghiệp và xây xuống trở xuống người đến đến 100 tỷ đến 300 dựng 200 người đồng người III.
Thương 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 từ trên 50 mại và dịch vụ xuống trở xuống người đến 50 đến 50 tỷ đến 100 người đồng người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ. Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.Đặc trưng của SMEs. Thứ nhất, SMEs chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Theo số liệu được Ủy ban châu Âu (EC) công bố 8/2014, hơn 20 triệu SMEs ở châu Âu chiếm 99% tổng số doanh nghiệp.
Theo báo cáo mới nhất vào tháng 1/2014 của Tradeup về tình hình tài chính của các SMEs tại Mỹ, SMEs cũng chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp, sử dụng trên 50% tổng số lao động xã hội, tạo 123doc 9 công ăn việc làm cho 65% lượng lao động ở khu vực tư nhân. Tại Việt Nam, theo Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc VCCI (2011), Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp, trong đó SMEs chiếm 97%, đóng góp hơn 40% GDP cả nước và sử dụng 51% tổng số lao động xã hội. Thứ hai, SMEs có quy mô vốn nhỏ, gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng. Điều này là một trở ngại không nhỏ trong việc triển khai, áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh nói chung và xúc tiến thương mại trực tuyến nói riêng của doanh nghiệp.
Thứ ba, SMEs chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty, tập đoàn lớn và từ chính các doanh nghiệp với nhau. Trong quá trình hội nhập, các tập đoàn lớn thường có xu hướng mở rộng mạng lưới kinh doanh bằng cách thành lập các chi nhánh, công ty con ở các quốc gia có nhiều lợi thế, vì vậy các SMEs phải tìm ra những phương thức, công cụ mới trong hoạt động kinh doanh để cạnh tranh với các công ty, tập đoàn lớn. Thứ tư, với nguồn vốn nhỏ hẹp, các doanh nghiệp này thường tập trung vào các ngành hàng thương mại dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng hơn là đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng, sản xuất khai thác có nhu cầu vốn lớn. Ở Việt Nam, theo Cục xúc tiến thương mại (2012) trong cơ cấu ngành nghề, khoảng 43% SMEs hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, 24% trong lĩnh vực thương mại và phân phối, số còn lại hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và liên quan đến nông nghiệp.
Ngoài các đặc trưng chung nêu trên, các SMEs tại Việt Nam còn có những đặc trưng như sau: - SMEs thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức tổ chức sản xuất, hoạt động trong những ngành nghề, lĩnh vực khác nhau - Trình độ của chủ doanh nghiệp và người lao động thường là không cao, và còn hạn chế, phần lớn là chưa được đào tạo bài bản mà chủ yếu là phát triển kinh doanh từ các hộ kinh doanh cá thể. - Khả năng tổ chức, quản trị điều hành doanh nghiệp còn hạn chế, chưa có tính chuyên nghiệp, cách thức quản lý theo hình thức hộ gia đình. - Trình độ công nghệ, khả năng tài chính đầu tư cho nghiên cứu triển khai thấp, khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế nhất là thị trường nước ngoài. 123doc 10 - Doanh nghiệp thường sử dụng đất đai của mình để làm mặt bằng sản xuất, mặt bằng sản xuất là tài sản của chủ doanh nghiệp nên đôi khi không đưa vào chi phí sản xuất, chi phí khấu hao của doanh nghiệp.
Điểm mạnh, điểm yếu của SMEs. Điểm mạnh: Thứ nhất, các SMEs có cơ cấu quản lý gọn nhẹ, năng động, linh hoạt, tốc độ xử lý nhanh: Là doanh nghiệp vừa và nhỏ, với cơ cấu nhân sự linh hoạt, quy trình đơn giản, thoải mái sáng tạo, dễ dàng thay đổi chiến thuật, kế hoạch một cách hoàn hảo nhất để đưa ra những quyết định kịp thời, cũng như tránh né những rủi ro trên thị trường một cách nhanh nhất, hạn chế gây thiệt hại nặng nề cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp góp phần tiết kiệm chi phí quản lý cho doanh nghiệp. Thứ hai, các SMEs thường xây dựng mô hình văn hóa gia đình: Xây dựng văn hóa gia đình không những giúp doanh nghiệp tạo ra động lực làm việc tích cực từ tinh thần thoải mái hơn của nhân viên mà còn giúp tăng hiệu quả làm việc nhóm, tăng năng suất lao động, giảm thiểu mâu thuẫn nội bộ, giảm thiểu rủi ro nhảy việc của nhân sự xuất sắc – đây là vấn đề luôn gây đau đầu với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay, từ đó xây dựng giá trị văn hóa doanh nghiệp bền vững, đặt nền móng cho sự phát triển sau này.
Điều ấy không có nghĩa là những công ty, tập đoàn lớn không thể xây dựng được văn hóa gia đình cho mình, nhưng để làm được như những doanh nghiệp vừa và nhỏ (với cơ cấu nhân sự nhỏ gọn và linh hoạt) thì những doanh nghiệp lớn này sẽ phải nỗ lực và mất thời gian hơn nhiều. Thứ ba, các SMEs thường kết nối với khách hàng tốt hơn, bởi vì những Doanh nghiệp lớn thì bộ máy cồng kềnh, nhiều khâu, nhiều bộ phận, phòng ban nên quá trình xử lý công việc đôi lúc chưa kịp thời, ví dụ như chậm phản hồi với khách hàng, kéo dài sự kết nối của khách hàng với Doanh nghiệp. Cũng như Dave Kerpen trình bày trong quyển Likeable Social Media (quyển sách được giải thưởng sách quốc gia Hoa Kỳ năm 2011): “Khách hàng không quan tâm đến việc bạn làm ở bộ phận hay phòng ban nào, họ chỉ muốn được lắng nghe và được phản hồi nhanh nhất có thể”.