Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Phương Oanh được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế đối mặt với nhiều thách thức từ suy thoái và biến động kinh tế toàn cầu, kéo theo áp lực việc làm đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp. Trước tình trạng thất nghiệp của người trẻ, khởi nghiệp được xác định là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm. Sinh viên được nhìn nhận là lực lượng xã hội đông đảo, có trình độ học vấn, được đào tạo bài bản và có tiềm năng sáng tạo. Tuy nhiên, thực tế cho thấy phần lớn sinh viên vẫn chưa đủ mạnh dạn để hiện thực hóa ý định khởi nghiệp sau khi ra trường, ngay cả đối với sinh viên thuộc khối ngành kinh tế. Để chuyển hóa ý định thành hành vi kinh doanh cụ thể, cá nhân cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về kiến thức, kỹ năng, thái độ và sự hỗ trợ từ môi trường xung quanh. Đề tài được hình thành nhằm phân tích các rào cản và yếu tố tác động, từ đó gợi mở định hướng giúp sinh viên tự tin khởi nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên theo học tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề ra các giải pháp giúp sinh viên tự tin, sẵn sàng đối mặt với khó khăn khi khởi nghiệp.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định các yếu tố ảnh hưởng ý định khởi nghiệp của sinh viên.
    2. Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng ý định khởi nghiệp của sinh viên.
    3. Đề xuất một số giải pháp rút ra từ kết quả nghiên cứu nhằm kích thích sinh viên tự khởi nghiệp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên theo học tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đối tượng khảo sát: Sinh viên đang theo học tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi không gian: Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thu thập và phân tích dữ liệu trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2022 đến ngày 10/01/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp thông qua hệ thống lý luận học thuật và các cơ sở pháp lý hiện hành của Việt Nam:

  • Cơ sở pháp lý: Tác giả căn cứ vào Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025" và Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025".
  • Khung lý thuyết và khái niệm: Ý định khởi nghiệp được định nghĩa dựa trên các nghiên cứu của Bird (1988), Souitaris và cộng sự (2007), Schwarz và cộng sự (2009), Kuckertz và Wagner (2010), cùng Nguyễn Thị Quý (2020). Tác giả làm rõ 5 vai trò của khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: (1) Thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch kinh tế; (2) Tạo tính đa dạng thị trường; (3) Sử dụng hiệu quả vốn tri thức và năng lực con người; (4) Nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách tương lai; (5) Thúc đẩy tốc độ áp dụng công nghệ mới.
  • Mô hình tham khảo: Tác giả kế thừa mô hình của Nguyễn Thị Bích Liên (2020) tại Thành phố Hồ Chí Minh (gồm: Đặc điểm tính cách, Chuẩn chủ quan, Nhận thức tính khả thi, Nguồn vốn, Giáo dục khởi nghiệp) và mô hình của Huỳnh Nhựt Nghĩa cùng cộng sự (2021) tại Trường Đại học Tài chính - Marketing (UFM) (gồm 6 yếu tố: Hỗ trợ từ gia đình và bạn bè, Năng lực sinh viên, Hệ sinh thái khởi nghiệp, Động lực, Nhận thức, Thái độ).
  • Mô hình đề xuất và giả thuyết nghiên cứu: Tác giả xây dựng mô hình gồm 5 biến độc lập tác động thuận chiều (+) đến biến phụ thuộc Ý định khởi nghiệp (YDKN):
    • H1: Môi trường giáo dục (MT) ảnh hưởng thuận chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
    • H2: Đặc điểm tính cách (TC) ảnh hưởng thuận chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
    • H3: Nguồn vốn (NV) ảnh hưởng thuận chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
    • H4: Chuẩn chủ quan (CCQ) ảnh hưởng thuận chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
    • H5: Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp (TDKN) ảnh hưởng thuận chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Nghiên cứu định tính: Phân tích, tổng hợp tài liệu từ sách báo, tạp chí khoa học để hiệu chỉnh thang đo sơ bộ thành thang đo chính thức gồm 25 biến quan sát (21 biến độc lập và 4 biến phụ thuộc) sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý). Thang đo được kế thừa từ các tác giả: Haris và cộng sự (2016), Lüthje và Franke (2004), Wongnaa và Seyram (2014), Autio và cộng sự (2001), Nguyễn Thu Thủy (2014), Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017).
  • Nghiên cứu định lượng: Dựa trên công thức kích thước mẫu tối thiểu của Hair, Anderson, Tatham và Black (1998) cho phân tích nhân tố khám phá EFA (N >= 5 * m, với m = 25 biến quan sát, cỡ mẫu tối thiểu là 125), tác giả phát ra 150 phiếu khảo sát qua Google Forms thông qua email và mạng xã hội. Sau sàng lọc tính hợp lệ, thu được 132 mẫu đạt yêu cầu để đưa vào phân tích.
  • Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để thực hiện: thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn), đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (điều kiện Alpha >= 0,6 và tương quan biến - tổng >= 0,3), phân tích nhân tố khám phá EFA (KMO từ 0,5 đến 1, kiểm định Bartlett Sig. < 0,05, Eigenvalue > 1, tổng phương sai trích > 50%, hệ số tải nhân tố Factor Loading >= 0,5), kiểm định tương quan Pearson và phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (kiểm định F qua ANOVA, kiểm định t, hệ số phóng đại phương sai VIF).
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ các công trình công bố trước đó, văn bản pháp quy và báo cáo của nhà trường; dữ liệu sơ cấp thu nhận từ 132 sinh viên Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương này thiết lập cơ sở khoa học tổng thể cho khóa luận. Tác giả luận giải tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ làn sóng thất nghiệp sau đại học và yêu cầu thúc đẩy tinh thần quốc gia khởi nghiệp. Nội dung chương công bố mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, xác định đối tượng nghiên cứu là các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp, đối tượng khảo sát là sinh viên Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, phạm vi không gian tại trường và phạm vi thời gian từ ngày 01/10/2022 đến ngày 10/01/2023. Cuối chương, tác giả khái quát kết cấu toàn văn gồm 5 chương.

Chương 2: Tổng quan

Chương 2 tổng hợp bức tranh học thuật và thực tiễn qua 3 nội dung trọng tâm:

  • Tổng quan nghiên cứu: Lược khảo các công trình quốc tế của Peng (2012) tại Tây An - Trung Quốc (2.010 sinh viên), nghiên cứu tại Ai Cập năm 2018 (430 sinh viên), nghiên cứu tại Đại học Marien Ngouabi (2021), Harris và cộng sự (2016) tại Đại học Kuala Lumpur, nghiên cứu sinh viên quốc tế tại Malaysia (2017). Trong nước, tác giả tổng hợp nghiên cứu của Huỳnh Nhựt Nghĩa và cộng sự (2021) tại UFM (1.071 sinh viên), Đoàn Thị Thu Trang (2018) trên sinh viên kỹ thuật, Nguyễn Thị Bích Liên (2020) tại Thành phố Hồ Chí Minh, Trương Hoàng Diệp Hương và cộng sự (2022) tại Hà Nội (206 sinh viên), Hồ Duy Xuyên (2021) tại Trường Trung cấp Á Châu (250 sinh viên).
  • Tổng quan đơn vị nghiên cứu: Giới thiệu lịch sử thành lập Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1955 (tiền thân là Trường Quốc gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc). Trường trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện có 13 khoa, 2 viện nghiên cứu, 6 bộ môn trực thuộc, 14 trung tâm và 2 phân hiệu tại Gia Lai và Ninh Thuận. Đội ngũ gồm 824 cán bộ viên chức với 551 giảng viên (04 giáo sư, 31 phó giáo sư, 116 tiến sĩ, 341 thạc sĩ, 59 đại học). Trường từng nhận Huân chương Lao động Hạng ba (1985), Hạng nhất (2000) và Huân chương Độc lập Hạng ba (2005).
  • Thực trạng khởi nghiệp sinh viên Việt Nam: Đánh giá tác động của Quyết định 844/QĐ-TTg và Quyết định 1665/QĐ-TTg. Điểm qua các mô hình thực tế như dự án ứng dụng WORKSVN của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, 2 dự án thích ứng biến đổi khí hậu của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (2017), và Cuộc thi Sáng tạo trẻ Bách Khoa năm 2020 với chủ đề "Smart up for life".

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa khởi nghiệp kinh doanh, vai trò đổi mới sáng tạo và ý niệm về ý định khởi nghiệp. Trên cơ sở tổng hợp mô hình của Nguyễn Thị Bích Liên (2020) và Huỳnh Nhựt Nghĩa cùng cộng sự (2021), tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 5 nhân tố ảnh hưởng với 5 giả thuyết từ H1 đến H5.

Quy trình nghiên cứu được chi tiết hóa qua hai giai đoạn định tính và định lượng. Thang đo Likert 5 điểm được áp dụng để đo lường 25 biến quan sát được mã hóa cụ thể: Môi trường giáo dục (MT1 - MT4), Đặc điểm tính cách (TC1 - TC5), Nguồn vốn (NV1 - NV4), Chuẩn chủ quan (CCQ1 - CCQ4), Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp (TDKN1 - TDKN4), và Ý định khởi nghiệp (YDKN1 - YDKN4). Tác giả thiết lập các tiêu chuẩn kiểm định định lượng trên phần mềm SPSS 20.0, bao gồm quy chuẩn mẫu N >= 125, độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA (trích Principal Component, xoay Varimax), phân tích tương quan Pearson và mô hình hồi quy tuyến tính đa biến.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ các kết quả xử lý dữ liệu từ 132 phiếu khảo sát hợp lệ:

  • Thống kê mô tả mẫu:
    • Giới tính: Nam chiếm 53% (70 người), nữ chiếm 47% (62 người).
    • Trình độ học vấn: Sinh viên năm 4 chiếm tỷ lệ áp đảo với 72%, tiếp đến là năm 2 (11%), năm 3 (9%), năm 1 (5%) và sinh viên đã tốt nghiệp (3%).
    • Ngành học: Khoa Kinh tế chiếm đa số với 71,2% (94 sinh viên). Các khoa còn lại gồm Cơ khí công nghệ (9,1%), Công nghệ thông tin (4,5%), Chăn nuôi thú y (3%), Nông học (3%), Công nghệ thực phẩm (2,3%), Lâm nghiệp (2,3%), Thủy sản (1,5%), Công nghiệp văn hóa (0,8%) và Ngoại ngữ (0,8%).
    • Thu nhập (phụ cấp hàng tháng): Nhóm 3 - 5 triệu đồng chiếm cao nhất với 44,7% (59 người); nhóm 5 - 10 triệu đồng chiếm 26,5% (35 người); nhóm dưới 3 triệu đồng chiếm 23,5% (31 người); và nhóm trên 10 triệu đồng chỉ chiếm 5,3% (7 người).
  • Điểm trung bình các biến tổng: Biến Ý định khởi nghiệp đạt trung bình cao nhất (3,806; độ lệch chuẩn 0,706); tiếp theo là Chuẩn chủ quan (3,799; 0,810); Đặc điểm tính cách (3,768; 0,676); Nguồn vốn (3,742; 0,739); Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp (3,729; 0,911); và Môi trường giáo dục (3,679; 0,662). Tất cả các giá trị trung bình đều tiệm cận mức 4 (Đồng ý) và độ lệch chuẩn nhỏ hơn 1.
  • Kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha: Cả 6 thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy (> 0,6) và hệ số tương quan biến - tổng của tất cả 25 biến quan sát đều > 0,3. Không có biến rác nào bị loại bỏ.
  • Phân tích nhân tố khám phá EFA: Với 21 biến độc lập, chỉ số KMO đạt 0,799; kiểm định Bartlett đạt giá trị Chi-Square = 1356,734 với mức ý nghĩa Sig. = 0,000; tổng phương sai trích đạt 66,643% tại Eigenvalue = 1,401. Kết quả ma trận xoay trích được 5 nhân tố với toàn bộ các trọng số Factor Loading đều lớn hơn 0,5, đảm bảo giá trị hội tụ và giá trị phân biệt.
  • Thảo luận giải pháp: Dựa trên kết quả hồi quy và thống kê, tác giả thảo luận việc nâng cao tác động của môi trường giáo dục, củng cố tính cách tự tin và định hình thái độ tích cực của sinh viên đối với hành vi khởi nghiệp.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tóm tắt kết quả nghiên cứu, khẳng định sự tác động đồng thời của 5 nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên dữ liệu phân tích, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp thực tiễn tập trung vào môi trường giáo dục, bồi dưỡng tính cách và nâng cao thái độ của người học. Đồng thời, khóa luận xây dựng hệ thống kiến nghị đồng bộ gửi đến ba chủ thể: Nhà nước (chính sách hỗ trợ và quỹ tài chính), Nhà trường (đổi mới đào tạo, tổ chức mạng lưới cố vấn, câu lạc bộ) và Sinh viên (tự rèn luyện, chủ động tích lũy năng lực kinh doanh).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh qua tập dữ liệu 132 quan sát.

Thang đo biến số Số biến quan sát Điểm trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn (SD) Hệ số Cronbach's Alpha
Môi trường giáo dục (MT) 4 3,679 0,662 0,766
Đặc điểm tính cách (TC) 5 3,768 0,676 0,835
Nguồn vốn (NV) 4 3,742 0,739 0,817
Chuẩn chủ quan (CCQ) 4 3,799 0,810 0,858
Thái độ đối với hành vi (TDKN) 4 3,729 0,911 0,879
Ý định khởi nghiệp (YDKN) 4 3,806 0,706 0,802

Kết quả phân tích EFA biến độc lập xác nhận mô hình trích được 5 nhóm nhân tố rõ rệt với KMO = 0,799, Sig. Bartlett = 0,000 và tổng phương sai trích đạt 66,643% (thất thoát 33,357%). Toàn bộ 21 biến độc lập và 4 biến phụ thuộc đều đạt giá trị hội tụ và phân biệt, hệ số tải đều lớn hơn 0,5 (trong đó biến TDKN1 có trọng số tải cao nhất nhóm 1 đạt 0,856).

Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:

  • Giải pháp về môi trường giáo dục: Nhà trường cần lồng ghép kiến thức khởi nghiệp chuyên sâu vào chương trình chính khóa, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hội thảo định hướng khởi nghiệp và kết nối với doanh nghiệp thực tế.
  • Giải pháp về tính cách và thái độ: Xây dựng môi trường trải nghiệm thực tế giúp sinh viên rèn luyện tinh thần dám đối mặt với thách thức, tính kiên trì, bản lĩnh lãnh đạo, đồng thời nâng cao nhận thức về giá trị xã hội và lợi ích của việc làm chủ doanh nghiệp.
  • Kiến nghị ba bên: Đề nghị Nhà nước hoàn thiện khung pháp lý và các quỹ tín dụng ưu đãi theo Đề án 844 và 1665; đề nghị Nhà trường thành lập các trung tâm ươm tạo khởi nghiệp và đẩy mạnh liên kết doanh nghiệp; khuyến khích sinh viên chủ động tự học và tham gia các phong trào đổi mới sáng tạo.

Về mặt đóng góp học thuật, khóa luận kiểm chứng thực nghiệm mô hình lý thuyết ý định khởi nghiệp trên đối tượng sinh viên một trường đại học đa ngành có thế mạnh truyền thống nông nghiệp (Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh), bổ sung thêm bằng chứng thực tế về sự tác động của môi trường đào tạo, nguồn vốn và các yếu tố tâm lý hành vi đến sinh viên tại khu vực phía Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện nghiên cứu:

  • Hạn chế về mẫu khảo sát: Kích thước mẫu thực tế gồm 132 sinh viên là quy mô tương đối nhỏ dù đã thỏa mãn điều kiện phân tích định lượng tối thiểu (N >= 125). Phương pháp lấy mẫu thuận tiện trực tuyến qua Google Forms có thể làm giảm tính ngẫu nhiên đại diện.
  • Cơ cấu mẫu chưa cân đối: Sinh viên Khoa Kinh tế chiếm tỷ lệ quá lớn (71,2%), sinh viên năm 4 chiếm 72%, trong khi các khoa đặc thù của trường như Cơ khí công nghệ, Nông học, Chăn nuôi thú y, Thủy sản, Lâm nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (từ 0,8% đến 9,1%). Điều này làm hạn chế khả năng khái quát hóa kết quả cho toàn thể sinh viên các khối ngành kỹ thuật, nông nghiệp trong trường.
  • Hạn chế về thời gian: Nghiên cứu được triển khai trong thời gian ngắn (từ tháng 10/2022 đến tháng 01/2023), chưa theo dõi được sự biến đổi của ý định khởi nghiệp thành hành vi thực tế sau khi sinh viên tốt nghiệp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở rộng từ các hạn chế trên:

  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát lên cỡ mẫu lớn hơn và áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng theo từng khoa để đảm bảo tính đại diện đồng đều cho các ngành nông - lâm - ngư nghiệp và kỹ thuật.
  • Bổ sung thêm các biến nghiên cứu mới vào mô hình như: năng lực bản thân, hệ sinh thái khởi nghiệp địa phương, kinh nghiệm làm việc thực tế, hoặc kiểm tra sâu hơn sự khác biệt theo biến nhân khẩu học (ngành học, giới tính, mức thu nhập).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho nhiều đối tượng bạn đọc:

  • Sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế: Tham khảo quy trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp định lượng hoàn chỉnh, từ việc chuyển hóa mô hình lý thuyết sang hệ thống bảng hỏi Likert 5 điểm, kỹ thuật mã hóa biến đến các bước xử lý dữ liệu chuẩn tắc trên phần mềm SPSS 20.0 (kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố EFA, tương quan Pearson và hồi quy).
  • Người nghiên cứu đề tài tương tự: Kế thừa trực tiếp hệ thống thang đo 25 biến quan sát đã được tác giả kiểm định đạt độ tin cậy cao và trích dẫn nguồn học thuật rõ ràng (Harris, Lüthje, Wongnaa, Autio, Phan Anh Tú).
  • Ban Giám hiệu, Khoa Kinh tế, Đoàn Thanh niên Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh: Sử dụng các số liệu thực chứng về mức thu nhập, ngành học và điểm đánh giá môi trường đào tạo để thiết kế các chương trình ngoại khóa, câu lạc bộ khởi nghiệp và chính sách kết nối nguồn vốn hỗ trợ sinh viên phù hợp với thực tiễn nhà trường.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và phân bổ ngành học của sinh viên tham gia khảo sát như thế nào?
Tác giả đã phát đi 150 phiếu khảo sát trực tuyến và thu về 132 mẫu hợp lệ. Cơ cấu mẫu phân theo ngành học tập trung phần lớn vào sinh viên Khoa Kinh tế với 94 người (71,2%). Các đơn vị còn lại có tỷ lệ thấp hơn: Cơ khí công nghệ 14 người (9,1%), Công nghệ thông tin 6 người (4,5%), Chăn nuôi thú y 4 người (3%), Nông học 4 người (3%), Công nghệ thực phẩm 3 người (2,3%), Lâm nghiệp 3 người (2,3%), Thủy sản 2 người (1,5%), Công nghiệp văn hóa 1 người (0,8%) và Ngoại ngữ 1 người (0,8%).

Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha của các thang đo trong khóa luận đạt mức nào?
Toàn bộ 6 thang đo đều đạt độ tin cậy tốt (hệ số Alpha > 0,6 và tương quan biến - tổng > 0,3). Cụ thể: Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp đạt 0,879; Chuẩn chủ quan đạt 0,858; Đặc điểm tính cách đạt 0,835; Nguồn vốn đạt 0,817; Ý định khởi nghiệp đạt 0,802; và Môi trường giáo dục đạt 0,766. Không có biến quan sát nào bị loại bỏ sau kiểm định.

Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho các biến độc lập đạt các chỉ số kỹ thuật cụ thể ra sao?
Phân tích EFA cho 21 biến quan sát độc lập đạt hệ số KMO = 0,799 (thỏa mãn điều kiện 0,5 < KMO < 1). Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê cao với giá trị xấp xỉ Chi-Square = 1356,734 (df = 210, Sig. = 0,000). Mô hình trích được 5 nhân tố tại điểm dừng Eigenvalue = 1,401 với tổng phương sai trích đạt 66,643% (vượt ngưỡng yêu cầu 50%), toàn bộ hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0,5.

Các biến quan sát trong khóa luận được kế thừa từ những công trình học thuật nào?
Thang đo 25 biến được tác giả tổng hợp từ các nguồn nghiên cứu uy tín: thang đo Môi trường giáo dục (MT), Nguồn vốn (NV) và Ý định khởi nghiệp (YDKN) kế thừa từ Haris và cộng sự (2016); Đặc điểm tính cách (TC) kế thừa từ Lüthje và Franke (2004), Wongnaa và Seyram (2014); Chuẩn chủ quan (CCQ) kế thừa từ Autio và cộng sự (2001), Nguyễn Thu Thủy (2014); Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp (TDKN) kế thừa từ Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017).

Nghiên cứu căn cứ vào những văn bản chính sách quốc gia nào để làm rõ bối cảnh khởi nghiệp sinh viên?
Tác giả dẫn chiếu hai văn bản pháp lý nền tảng của Chính phủ gồm: Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 phê duyệt Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025" và Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 phê duyệt Đề án "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025".

Kết luận

Khóa luận "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh" của tác giả Nguyễn Thị Phương Oanh là một công trình nghiên cứu định lượng khảo sát được thiết kế chặt chẽ và thực hiện theo đúng các chuẩn mực phân tích thống kê trong ngành Quản trị kinh doanh. Thông qua dữ liệu thực nghiệm từ 132 sinh viên, tác giả đã kiểm định thành công mô hình 5 nhân tố gồm Môi trường giáo dục, Đặc điểm tính cách, Nguồn vốn, Chuẩn chủ quan và Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp. Công trình không chỉ cung cấp bức tranh dữ liệu xác thực về nhận thức khởi nghiệp của sinh viên tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh mà còn đưa ra các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm thúc đẩy tinh thần tự lập kinh doanh trong môi trường đại học.