Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm và tầm quan trọng của sự hài lòng trong công việc 1. Khái niệm hài lòng trong công việc Có rất nhiều khái niệm khác nhau về sự hài lòng trong công việc được phát triển bởi các học giả khác nhau. Những cách tiếp cận đa dạng này tồn tại bởi vì mỗi nhân viên có một cảm giác và phản ứng đặc biệt đối với tổ chức của mình.
Để đo lường và xác định mức độ hài lòng của công việc có thể là một thách thức bởi vì nó ảnh hưởng thông qua thái độ của nhân viên cũng như khả năng giải quyết công việc cần thiết, giao tiếp trong tổ chức và cách nhà quản lý đối xử với nhân viên của họ. Davis và Nestron (1984) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là kết quả của sự đánh giá của người lao động đối với mức độ mà điều kiện làm việc đáp ứng nhu cầu của cá nhân. Spector (1997) giải thích rằng nếu yêu thích công việc và các vấn đề xung quanh công việc được thuận lợi thì đó là sự hài lòng trong công việc. Nó là một thành phần cam kết của tổ chức.
Schermerhorn (1993) (trích trong Navdeep Kumar, 2011), định nghĩa sự hài lòng đối với công việc là sự phản hồi tích cực đối với những mặt khác nhau trong công việc. Ông nhấn mạnh những nguyên nhân khiến nhân viên hài lòng đối với công việc của mình bao gồm: vị trí, lãnh đạo, mối quan hệ đồng nghiệp, sự hài lòng công việc, lương thưởng, sự thăng tiến, môi trường làm việc, cấu trúc tổ chức. Robbins và cộng sự (2003) đã phát hiện ra rằng các tổ chức có nhiều công nhân hài lòng có công việc hiệu quả hơn các tổ chức có ít công nhân hài lòng. Nhân viên có thái độ, ý kiến và quan điểm về công việc, nghề nghiệp và tổ chức của họ; từ góc độ nghiên cứu, thái độ nhân viên trung tâm nhất được gọi là sự hài lòng trong công việc (Saari và Judge, 2004).
Hơn nữa, thuật ngữ thỏa mãn công việc đề cập đến thái độ và cảm xúc của mọi người về công việc của họ. Thái độ tích cực và thuận lợi đối với công việc chỉ 7 ra sự hài lòng của công việc. Thái độ tiêu cực và bất lợi đối với công việc cho thấy sự không hài lòng trong công việc. Nghiên cứu của Smith (2007) chỉ ra rằng công việc giữ vai trò trung tâm trong cuộc sống của nhiều người.
Vì vậy, theo Smith, sự hài lòng với công việc của một người là một thành phần quan trọng trong tổng thể hạnh phúc của người lao động. Sự hài lòng của công việc được xác định và đo lường bằng cách tham khảo các yếu tố khác nhau của công việc. Bất kể cách tiếp cận lý thuyết được sử dụng để nghiên cứu sự hài lòng của công việc, hầu hết các nghiên cứu đã xác định ít nhất hai loại biến số tiền đề chung. Các yếu tố môi trường - đặc điểm cá nhân đều tập trung vào sự hài lòng của công việc và các thuộc tính, đặc tính cá nhân (Ellickson và Logsdon, 2002).
Đây là một thái độ chung, là kết quả của nhiều thái độ cụ thể trong ba lĩnh vực như yếu tố công việc, đặc điểm cá nhân hoặc cá nhân, các mối quan hệ xã hội và nhóm khác ngoài công việc (Shajahan, 2004). Một nhà nghiên cứu khác lưu ý rằng các tài liệu về động lực, cam kết và sự hài lòng trong công việc của nhân viên đề xuất rằng thái độ của tổ chức được điều khiển bởi cả bối cảnh cá nhân cũng như công việc (Moynihan và Pandey, 2007). Nhìn chung, sự hài lòng với công việc được hiểu là cảm xúc yêu thích và hướng đến công việc của mình. Theo Kim Dung (2005), sự hài lòng đối với công việc của nhân viên được định nghĩa và đo lường theo cả hai khía cạnh: hài lòng chung đối với công việc và hài lòng theo các yếu tố thành phần công việc.
Hài lòng chung thể hiện cảm xúc bao hàm chung lên tất cả các khía cạnh của công việc. Một quan điểm khác coi sự hài lòng với công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ. Cả hai cách tiếp cận đều phù hợp cho việc đo lường mức độ hài lòng của nhân viên trong công việc. Tuy nhiên, sử dụng cách tiếp cận theo thành phần công việc sẽ giúp các nhà quản trị biết rõ hơn về những điểm mạnh, điểm yếu trong việc điều hành tổ chức và hoạt động nào được nhân viên đánh giá cao nhất hoặc kém nhất (DeConinck và Stilwell, 2004).
Vì vậy, cách tiếp cận về sự hài lòng công việc theo các thành phần công việc sẽ được áp dụng nghiên cứu trong luận văn. 8 Nhìn chung có rất nhiều quan điểm khác nhau về sự hài lòng trong công việc. Cùng một công việc giống nhau, trong một điều kiện làm việc như nhau, nhưng mỗi người lao động có thể có mức độ hài lòng khác nhau, tùy thuộc vào cảm nhận và đánh giá chủ quan của bản thân người lao động. Do đó, theo quan điểm của tác giả, sự hài lòng trong công việc là trạng thái cảm giác mà người lao động có được sau khi trải nghiệm thực hiện công việc mà đáp ứng được các kỳ vọng của họ liên quan đến công việc.
Tầm quan trọng của sự hài lòng trong công việc Đối với tổ chức, đội ngũ nhân sự hài lòng tác động đến mọi mặt của hoạt động doanh nghiệp bao gồm: - Gia tăng hiệu suất nhân sự: Nhân viên hài lòng với công việc sẽ có thái độ và hành vi tốt hơn, tận tậm, cống hiến và chủ động học hỏi, phát triển trong công việc. Điều này làm gia tăng năng suất tổng thể của công ty và giúp công ty đạt được các mục tiêu của mình. - Duy trì và ổn định được nguồn nhân lực trong công ty: nhân viên hài lòng sẽ có tinh thần gắn bó với doanh nghiệp cao hơn, ít bị giao động bởi những lời mời chào bên ngoài. Bên cạnh đó, nhân viên sẽ đề cao lợi ích tập thể bởi khi họ muốn gắn bó là họ sẽ chăm sóc, “xây dựng’’ và “bảo vệ’’ ngôi nhà chung của mình.
- Khi nhân viên hài lòng với công việc của mình, họ sẽ ứng xử với khách hàng tốt hơn và cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng. - Nhân viên sẽ truyền thông công ty ra bên ngoài và điều đó giúp công ty thu hút được nhân tài, xây dựng hình ảnh tốt trong con mắt khách hàng và đối tác. - Tiết kiệm được chi phí dành cho đào tạo ứng viên mới và tuyển dụng ứng viên. - Giảm thiểu được các sai hỏng trong quá trình làm việc cũng như những rủi ro về mặt quy trình bởi nhân viên có trách nhiệm hơn, tâm huyết hơn nên họ luôn nỗ lực để làm tốt hơn công việc của mình.
Còn đối với nhân viên, sự hài lòng trong công việc không chỉ giúp họ gắn bó với doanh nghiệp hơn mà giúp củng cố niềm tin yêu của họ với doanh nghiệp. Nhân viên sẽ bắt đầu quan tâm đến công việc của mình thay vì lo lắng về các vấn đề khác, 9 họ cảm thấy có trách nhiệm đối với tổ chức và cố gắng tạo ra kết quả tốt hơn để có được sự đánh giá cao từ công ty. Họ cũng sẽ giao dịch với khách hàng tốt hơn và xây dựng mối quan hệ mạnh mẽ với họ. Thành công của tổ chức dựa trên sự tham gia của tất cả nhân viên.
Do đó sự hài lòng trong công việc là một chiều kích vô giá đối với hiệu suất tổ chức (Judge cộng sự, 2010). Để mọi người tham gia làm việc trong tổ chức, họ phải hài lòng với công việc của họ (Organ và Ryan, 1995). Hơn nữa, ngày càng tăng sự hài lòng trong công việc của nhân viên là trách nhiệm thiết yếu của người quản lý, vì sự bằng lòng của nhân viên có hiệu ứng ảnh hưởng đến lòng trung thành và sự tự tin của nhân viên bên cạnh việc cải thiện chất lượng đầu ra và tăng năng suất (Yee và cộng sự, 2008). Nhân viên có sự thỏa mãn với công việc cao hơn có xu hướng tin rằng tổ chức sẽ hài lòng hơn trong dài hạn, cam kết chất lượng công việc tốt hơn, ở lại lâu hơn trong tổ chức và làm việc hiệu quả hơn (Fraser, 2001).
Người nhân viên hài lòng cũng có xu hướng tham gia vào các hành vi vị tha vượt quá yêu cầu chính thức của một công việc, có tỷ lệ duy trì cao hơn và có năng suất cao hơn (Goslin, 2005). Mặt khác, nhân viên không hài lòng thể hiện một mặt xu hướng đối với các hành vi phản tác dụng, bao gồm rút tiền, kiệt sức và rời bỏ khỏi nơi làm việc (Faragher và cộng sự, 2005). Điều này sẽ dẫn đến việc mất sản xuất do nhân viên không hài lòng có khả năng nghỉ việc nhiều hơn (Shields, 2006). Điều này cho thấy rằng cải thiện sự hài lòng trong công việc giúp tăng cường thành công chung của tổ chức.
Quan điểm này nắm bắt tầm quan trọng của nhân viên như là công cụ của tăng hiệu suất tổ chức. Các lý thuyết nền tảng Đã có rất nhiều các nghiên cứu về sự hài lòng được thực hiện ở các nước trên thế giới và tại Việt Nam. Các nghiên cứu này có cách tiếp cận không hoàn toàn giống nhau do được thực hiện dựa trên các lý thuyết nền tảng. Có nhiều lý thuyết nền tảng đã được sử dụng để nghiên cứu về sự hài lòng, nhưng nhìn chung chúng thường thuộc về 3 trào lưu: các lý thuyết tình huống, các phương pháp tiếp cận phi ngoại cảnh và các lý thuyết về tương tác.
- Các lý thuyết về tình huống cho rằng sự hài lòng của một người đối với công 10 việc là do bản chất công việc của người đó hoặc các yếu tố khác liên quan đến môi trường làm việc. - Các phương pháp tiếp cận phi ngoại cảnh lại giả định rằng sự hài lòng đối với công việc của một người bắt nguồn từ các đặc trưng tâm sinh lý cá nhân. - Các lý thuyết tương tác lập luận rằng sự hài lòng đối với công việc đến từ sự tương tác giữa tình huống và cá tính. Các lý thuyết về tình huống Trong nhóm lý thuyết về tình huống, các lý thuyết ảnh hưởng đến nhiều nghiên cứu về sự hài lòng công việc là thuyết về thứ bậc nhu cầu của Maslow, thuyết hai nhân tố của Herzberg, thuyết xử lý thông tin xã hội và mô hình đặc tính công việc.