Mở đầu. Chương này trình bày các vấn đề lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề và kết cấu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này sẽ trình bày các lý thuyết liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập trực tuyến của sinh viên Khoa Kinh tế-QTKD Trường Đại học An Giang, cùng mô hình đề xuất dựa trên các mô hình của các nghiên cứu trước.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày về những phương pháp được sử dụng để thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu trong đề tài nghiên cứu này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày và phân tích kết quả thu được từ nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng về những yếu tố ảnh hưởng đến đến kết quả học tập trực tuyến của sinh viên Khoa Kinh tế-QTKD Trường Đại học An Giang Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
Chương này sẽ tóm tắt và thảo luận về kết quả thu được từ nghiên cứu. Từ đó đề ra những giải pháp đề nhằm hạn chế những khó khăn và phát huy ưu điểm của phương pháp học trực tuyến giúp sinh viên Khoa Kinh tế-QTKD Trường Đại học An Giang nâng cao kết quả học tập trực tuyến. Đồng thời nêu lên những hạn chế nghiên cứu.1 Đại dịch Covid-19 Đại dịch COVID-19 là một đại dịch bệnh truyền nhiễm do virus SARS-CoV- 2 gây ra. Khởi phát vào tháng 12 năm 2019 tại Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, với tính chất nguy hiểm và tốc độ lây lan dịch bệnh viêm phổi cấp do virus Corona đã dần lan rộng khắp toàn cầu gây ra đã làm đảo lộn cuộc sống của người dân toàn cầu.
Đến ngày 11 tháng 3 năm 2020, COVID-19 chính thức được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) coi là "đại dịch toàn cầu" và đòi hỏi các nước cần có những biện pháp phòng chống dịch quyết liệt. Cả thế giới đang nỗ lực để chống lại đại dịch Covid-19, và Việt Nam cũng không nằm ngoài cuộc chiến này. Để ứng phó với dịch bệnh Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 16/CT-TTg với các biện pháp thực hiện cách ly toàn xã hội, hạn chế di chuyển, tạm dừng tổ chức các hoạt động tụ tập đông người trong đó có hoạt động đào tạo tập trung tại các cơ sở giáo dục. Nhằm đảm bảo kế hoạch đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các trường triển khai mô hình đào tạo trực tuyến đến học sinh sinh viên toàn quốc (Đặng Thị Thúy Hiền và cs.2 Học trực tuyến (online learning) Học trực tuyến là phương thức phân phối các tài liệu, nội dung học tập dựa trên các công cụ điện tử hiện đại được thực hiện hoàn toàn thông qua hệ thống quản lý học tập (LMS) như Blackboard, WebCT, MOODLE… Hầu hết sự tương tác giữa giáo viên và sinh viên, sự tương tác giữa các sinh viên với nhau được thực hiện với sự hỗ trợ từ các hệ thống quản lý học tập (Dron, 2007).
Học trực tuyến cũng có thể hiểu là hình thức học tập thông qua một máy vi tính, điện thoại thông minh có kết nối mạng internet. Từ đó, người học có thể tiết kiệm được thời gian chi phí vì hình thức học này giúp giải quyết rào cản khoảng cách thời gian và địa lý. Việc giao tiếp giữa người học và người hướng dẫn được thực hiện thông qua các chức năng đa phương tiện khác nhau (Trầ n Yế n Nhi, 2021). Thực tế có nhiều định nghĩa về học tập trực tuyến nhưng điểm chung giữa các định nghĩa này là sự gắn liền với yếu tố công nghệ, sử dụng công nghệ kết nối mạng máy tính trên môi trường internet để cung cấp thông tin và hướng dẫn cho cá nhân có nhu cầu (Welsh, Wanberg, Brown và Simmering, 2003).
Tác giả Rosenberg (2001) cũng đã chia sẻ một định nghĩa tương tự đề cập đến học tập điện tử là sử dụng các công nghệ internet, cung cấp các giải pháp khác nhau cho người học. Nhờ sự phát triển của công nghệ, học tập trực tuyến đã trở thành một mô hình học tập phổ biến trên thế giới, được áp dụng khá phổ biến ở nhiều nước đặc biệt trong bối cảnh phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp SARS-CoV-2 (COVID-19). Các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang thực hiện các biện pháp thắt chặt như hạn chế tiếp xúc trực tiếp gần giữa người với người, tránh tụ tập đông người thậm chí là thực hiện giãn cách… nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh thì hình thức hoc tập trực tuyến được xem là phương thức hữu hiệu và cần thiết để người học có thể cập nhật kiến thức mà không cần phải học tập 4 tập trung tại trường, tránh chậm hoặc trễ chương trình đào tạo (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020).3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học online của sinh viên.1 Yếu tố Công nghệ Công nghệ là cốt lõi của hình thức học tập trực tuyến (Ali và Magalhaes, 2008) đề cập đến thiết bị điện tử như máy tính, máy tính bảng hay điện thoại di động, kết nối mạng internet và phần mềm hỗ trợ học trực tuyến (Khobragade, Soe, Khobragade và bin Abas, 2021). Việc thiếu hoặc không đảm bảo một trong những yếu tố này thì sẽ rất khó hoặc không thể thực hiện học tập trực tuyến (Oliver và Towers, 2000).
Như vậy công nghệ là một điều kiện không thể tách rời khi đánh giá học tập trực tuyến, do đó nhiều nghiên cứu trước đây đã xác định những thuận lợi và rào cản từ yếu tố công nghệ đến quá trình học tập trực tuyến. Về mặt thuận lợi, Rosenberg (2001) đã khẳng định học tập trực tuyến dựa trên nền tảng sử dụng các công nghệ internet đã cung cấp một loạt các giải pháp nâng cao kiến thức và hiệu suất đào tạo. Nghiên cứu Lê Văn Hảo (2020) cho rằng ưu điểm nổi bật của hình thức học tập này là khả năng khai thác sức mạnh của công nghệ. Qua đó cho phép người học tương tác với tài liệu khóa học theo những cách mới, đánh giá và tổng hợp thông tin từ các tài nguyên dựa trên Web để giải quyết vấn đề.
Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ, sinh viên có thể truy cập vào các bài giảng mọi lúc, mọi nơi. Vì vậy, hoạt động học tập trở nên linh hoạt không chỉ giới hạn bên trong không gian khuôn viên nhà trường hay trong khung thời gian giờ hành chính đồng thời tiết kiệm các chi phí đi lại và đặc biệt hiệu quả trong những tình huống phải giãn cách xã hội. Mặt khác với việc khai thác, ứng dụng công nghệ, quá trình tham gia học tập trực tuyến đã gián tiếp nâng cao trình độ về công nghệ thông tin của người học. Đây là một trong những kỹ năng căn bản đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức, viên chức cần có trong công việc hiện nay (Nguyễn Việt Hùng, 2020).
Bên cạnh những thuận lợi nói trên yếu tố công nghệ cũng chính là một trong những rào cản lớn đối với người học. Theo Ali và Magalhaes (2008) công nghệ là cốt lõi của chương trình học và nó rất đắt tiền được xem là một trong những rào cản đáng kể đối với chương trình học online. Những rào cản này không những đến từ phía tổ chức mà còn từ phía người học, họ cần đáp ứng yêu cầu phần cứng cơ bản cho chương trình học online gồm các thiết bị điện tử như máy tính để bàn hoặc máy tính xách tay hoặc điện thoại (Wong, 2007). Bên cạnh yêu cầu về phần cứng thì một kết nối internet đáng tin cậy là điều kiện tiên quyết, việc đường truyền internet yếu có thể ảnh hưởng đến rất lớn đến việc theo dõi và tiếp thu kiến thức của sinh viên trong các buổi học (Bùi Quang Dũng và cs.
Vấn đề mạng không ổn định ảnh hưởng chất lượng âm thanh, chất lượng video thấp, màn hình không đồng bộ với âm thanh là một trong những cản trở lớn đối với người học (Fatonia và cs.2 Yếu tố tâm lí Yếu tố tâm lí được xem là yếu tố cốt lõi và đóng vai trò rất quan trọng quyết định đến hiệu quả học tập cần được xem xét và chú ý (Bùi Quang Dũng và cs. Trong hoạt động học tập, yếu tố tâm lý của cá nhân được biểu hiện qua ba mặt: nhận thức - thái độ - hành vi (Vũ Ngọc Hà, 2003). Cụ thể: 5 Về nhận thức: Nhận thức chỉ đạo xuyên suốt quá trình hành động của con người, giúp con người bày tỏ thái độ và có hành vi tương ứng khi nhìn nhận, đánh giá thế giới khách quan. Chính do hoạt động học tập là một hoạt động phức tạp nên trong quá trình tham gia hoạt động học tập con người không phải lúc nào cũng nhận thức đúng.
Với những nhận thức chưa đúng, chưa hoàn chỉnh có thể gây ra nhiều khó khăn tâm lí dẫn đến những sai lầm trong học tập và ảnh hưởng đến kết quả học tập cá nhân. Về thái độ: Đây là cảm xúc của con người thể hiện trong quá trình học tập. Những người thường biết làm chủ trạng thái cảm xúc bản thân, biểu hiện ở việc biết kìm chế, biết tạo ra hứng thú, xúc cảm tích cực, biết điều khiển, điều chỉnh các diễn biến tâm lý của mình. Trên cơ ở đó, người học sẽ lựa chọn được phương pháp học tập phù hợp với mục đích, nội dung, yêu cầu của hoạt động học tập nhằm đạt được kết quả tốt nhất.
Ngược lại việc thiếu kìm chế cảm xúc, tình cảm, lo lắng, thiếu tự tin trong học tập và nhiều khi dẫn đến tình trạng thờ ơ với hoạt động học tập. Về hành vi: Đây là “bộ mặt” của con người, nói lên đời sống tâm lý của họ khi tham gia vào hoạt động học tập. Những người gặp khó khăn về tâm lý trong hoạt động học tập thường có biểu hiện như: lúng túng, thiếu tự tin, diễn đạt nội dung học tập thiếu tính chính xác, các kỹ năng về học tập yếu kém, hay nói khác đi là chưa biết cách vận dụng kỹ năng học tập trong các khâu của hoạt động học tập. Tất cả điều này sẽ kéo theo những hành vi bộc phát, không làm chủ được những hành vi của bản thân trong quá trình học tập.
Tóm lại, tâm lý trong hoạt động học tập được biểu hiện thông qua ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người, đó là: nhận thức - thái độ - hành vi. Ba mặt này có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau, là một chỉnh thể thống nhất tạo cấu trúc tâm lý con người.