Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết – Mô hình & giả thuyết nghiên cứu Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Luận bàn kết quả nghiên cứu 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT – MÔ HÌNH & GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 2. Vốn tâm lý Các nghiên cứu về vốn tâm lý (Psychological Capital) hiện nay chủ yếu được thực hiện tại các quốc gia phát triển và được thực hiện chủ yếu bởi Fred Luthans và các cộng sự của ông. Ở Việt Nam, vốn tâm lý vẫn là khái niệm khá mới, chưa được nghiên cứu sâu và phổ biến.
Vốn tâm lý là một yếu tố tâm lý cốt lõi về sự tích cực nói chung và những tiêu chí hành vi tổ chức tích cực phù hợp với các trạng thái nói riêng, nó được xem là vượt xa vốn xã hội và vốn con người, đặc biệt vốn tâm lý quan tâm về việc bạn là ai ở hiện tại và sẽ trở thành ai trong tương lai (Luthans và cộng sự, 2015). Cũng theo Luthans và các cộng sự, vốn tâm lý là một trạng thái phát triển tâm lý tích cực của từng cá nhân và được đặc trưng bởi bốn yếu tố sau đây: - Có sự tự tin và nỗ lực cần thiết để thành công trong các nhiệm vụ đầy thách thức (Sự tự tin vào năng lực bản thân – self efficacy, gọi tắt là sự tự tin). - Đưa ra một sự ghi nhận tích cực (Sự lạc quan - Optimism) về thành công hiện tại và trong tương lai. - Kiên trì hướng tới mục tiêu và khi cần thiết, chuyển hướng các con đường đến mục tiêu (Sự hy vọng - Hope) để thành công.
- Khi bị bao vây bởi các vấn đề và nghịch cảnh, duy trì, phản kháng lại và thậm chí vượt qua (Resiliency) để đạt được thành công. Ở trong bài nghiên cứu này, “Resiliency” được hiểu là “Khả năng phục hồi” 2.1 Sự tự tin vào năng lực bản thân (Self – efficacy) Bandura (1997), cho rằng về cơ bản, tự tin là “niềm tin của mọi người vào khả năng của họ để đạt hiệu quả như mong đợi bằng chính những hành động của họ”, là yếu tố quan trọng nhất quyết định những hành vi mà người đó lựa chọn để 7 thể hiện sự kiên trì của họ trong những nỗ lực đối mặt với thử thách và khó khăn. Thuyết tự tin vào năng lực cũng xác nhận sự tự tin đóng vai trò then chốt trong sự điều chỉnh tâm lý, sức khỏe thể chất, cũng như những thay đổi chiến lược hành vi được hướng dẫn chuyên nghiệp hay tự phát. Luthans và các cộng sự (2008), đã xác định bốn cách để cải thiện niềm tin vào năng lực bản thân.
Đầu tiên, khi các cá nhân hoàn thành một nhiệm vụ thách thức, cá nhân thường tự tin hơn đối với khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Thứ hai, khi các cá nhân học theo cách quan sát (tức là mô hình hóa) từ những người khác thực hiện để có thể hoàn thành một nhiệm vụ nhất định. Nếu thành công trong một nhiệm vụ nhất định, thì sự tự tin tăng lên.Tác động của mô hình hóa phụ thuộc vào khả năng bắt chước chính mình (nhìn lại chính mình khi đã được thực hiện thành công nhiệm vụ). Nếu quá trình bắt chước chính mình là tương tự nhau, thì quá trình phát triển của sự tự tin vào năng lực bản thân trở nên hiệu quả hơn.
Thứ ba, sự tự tin tăng lên khi các cá nhân nhận được những phản hồi tích cực từ những người có uy tín. Và cuối cùng, sự tự tin được nâng cao thông qua việc cải thiện sức khỏe tâm sinh lý. Stajkovic và Luthans (trong Avey, Luthans, Smiths, & Palmer, 2010), định nghĩa năng lực bản thân là niềm tin của cá nhân vào khả năng của mình để chi phối tất cả các nỗ lực để thành công và thành công trong việc thực hiện các nhiệm vụ trong tầm tay. Những cá nhân có năng lực bản thân cao sẽ dám xác định mục tiêu và có thể kiểm soát bản thân trong hoàn cảnh khó khăn, dũng cảm chấp nhận thử thách, có động lực mạnh mẽ, có thể nỗ lực hết mình để đạt được mục tiêu và luôn kiên trì đối mặt với những trở ngại (Luthans, Youssef & Avolio, 2007).
Singh và Manshi (2009), nói rằng các cá nhân có mức độ tự tin vào năng lực bản thân cao, có tâm lý tốt thì dù sao đi nữa, cá nhân sẽ cảm thấy tự tin hơn, có khát vọng và cam kết mạnh mẽ về những gì bản thân muốn đạt được. Sự lạc quan (Optimism) Lạc quan được Carver & Scheier (2005), định nghĩa như là khuynh hướng duy trì một cái nhìn tích cực. Những hành động tích cực có tổ chức tập trung vào sự lạc quan mang tính thực tế liên quan đến việc nâng cao và tập trung vào những khía cạnh mà mình có lợi thế. Những nhân viên lạc quan luôn mong đợi kết quả tích 8 cực trong môi trường làm việc thay đổi.
Carver và Scheier (2002), cho rằng khi cá nhân có những kỳ vọng tích cực, các cá nhân sẽ tiếp tục cố gắng mặc dù đối mặt với khó khăn. Ngược lại, những người bi quan là những người liên tục có suy nghĩ tiêu cực và tin rằng các sự kiện không mong muốn sẽ xảy ra. Có thể kết luận rằng, những cá nhân lạc quan sẽ làm một cái gì đó tốt hơn so với bi quan. Theo Seligman (trong Luthans F, Luthans W, Luthans C, 2004), lạc quan là một cách giải thích các sự kiện tích cực của các cá nhân được sử dụng trong việc mô tả cả sự kiện tốt và xấu.
Giải thích về sự lạc quan có hai chiều quan trọng, đó là thời gian (vĩnh viễn) và địa điểm (phổ biến). Tính vĩnh viễn là khi có điều gì đó không ổn, một cá nhân lạc quan nhìn thấy mọi điều như vậy là tạm thời, còn cá nhân bi quan sẽ xem nó là vĩnh viễn. Tính phổ biến có thể giải thích cụ thể là, khi có một sự cố xấu xảy ra với một cá nhân lạc quan, họ sẽ nghĩ nó xuất phát từ bên ngoài (không phải từ bản thân họ). Trong khi những cá nhân bi quan nghĩ nó xuất phát từ bên trong (từ chính bản thân họ).
Một số nghiên cứu cho thấy sự lạc quan trái ngược lại với bi quan. Theo (Scheier, Carver, & Bridges, 2001), người lạc quan thường trải nghiệm các loại trải nghiệm khó khăn khác nhau. Trong khi đó những người bi quan có xu hướng dễ dàng nản lòng với những khó khăn. Khi cá nhân đối mặt với khó khăn, nếu có tinh thần lạc quan thì sẽ có thể sống sót, sẵn sàng cho những thách thức đưa ra và có thể đạt được mục tiêu của mình (Carver, & Scheier, 2003).
Những người lạc quan có xu hướng biết ơn về bất kỳ thay đổi nào xảy ra, có thể nhìn thấy những cơ hội có sẵn và tập trung vào việc có được cơ hội (Luthans, Youssef, & Avolio, 2007). Sự hy vọng (Hope) Theo nhà tâm lý học Snyder (1996), cho rằng sự hy vọng phản ánh “niềm tin rằng ta có thể tìm thấy con đường dẫn đến những thành quả mong muốn và có động lực để bước tiếp trên con đường ấy”. Hy vọng được mô tả là phẩm chất khiến một cá nhân kiên cường theo đuổi mục tiêu và trong một số trường hợp có thể thay đổi phương pháp đạt được mục tiêu đó để thành công. Luthans và cộng sự (2005), đã xác định hy vọng là khả năng nhận thức của con người để tìm ra con đường đến mục tiêu mong muốn và thúc đẩy bản thân thông qua suy nghĩ để sử dụng những 9 con đường đó.
Luthans và cộng sự chỉ ra rằng có một liên kết chặt chẽ giữa các cá nhân đang hy vọng với mức độ tự tin hoàn thành một nhiệm vụ cũng như khả năng của họ để tìm ra con đường để đạt được điều đó, một nhiệm vụ cụ thể có thể cho hiệu quả cao hơn. Hy vọng là một thang đo phụ của vốn tâm lý, nó có tầm quan trọng sống còn trong một tổ chức. Những cá nhân sở hữu mức độ hy vọng cao biểu thị mức độ mong đợi tích cực cao và năng lượng của họ cung cấp cho việc đạt được mục tiêu đó cũng cao. Việc hướng tới đạt được các mục đích cụ thể như vậy dẫn đến mức độ ràng buộc hơn (Ouweneelet al.
Giả thuyết hy vọng của Snyder và các đồng nghiệp (Snyder, Sympson, Ybasco, Borders, Babyak, & Higgin, 1996; Snyder, 2000, 2002) được phổ biến rộng rãi, được công nhận trong tâm lý học lâm sàng. Snyder và các đồng nghiệp của ông đã xác định, hy vọng là trạng thái động lực tích cực “dựa trên một ý thức tương tác xuất phát của cơ quan thành công (1) (mục tiêu năng lượng trực tiếp) và (2) con đường (lập kế hoạch để đạt được mục tiêu)”, (Snyder et al. Mặt khác, theo lý thuyết hy vọng - phản ánh cá nhân nhận thức liên quan đến năng lực của họ đối với (1) khái niệm hóa rõ ràng các mục tiêu, (2) phát triển các chiến lược cụ thể để đạt được các mục tiêu đó (tư duy con đường) và (3) khởi xướng và duy trì động lực sử dụng các chiến lược đó (tư duy đại lý). Vì vậy, hy vọng có thể được xem là bao gồm ba thành phần: cơ quan (sức mạnh ý chí), con đường (sức mạnh tự ý thức) và mục tiêu.
Một số nhà nghiên cứu đã chia hy vọng thành hai thành phần: năng lực ý chí và con đường đi (Snyder 2000; Snyder, Feldman, & Taylor 2000; Snyder & Lopez 2002). Con đường đi chính là khả năng xây dựng một lộ trình làm việc nhằm đạt được những thành quả mong muốn. Còn năng lực ý chí chính là nhận thức, lĩnh hội được con đường đi đến thành công. Trong việc xây dựng lý thuyết về hy vọng, Snyder giả định rằng các cá nhân thường được định hướng về mục đích cụ thể là họ phải cư xử như thế nào, phải cố gắng để đạt được một cái gì đó.
Luthans và cộng sự (2008), xem ý chí như nghị lực để cá nhân cố gắng và nỗ lực để đạt được một mục tiêu mong muốn. Con đường đi và năng lực ý chí là một cặp cộng sinh nơi mà đặc tính của năng lực ý chí kích thích sự khám phá ra những con đường đi bổ sung để đạt được mục tiêu mong muốn. Sức mạnh ý chí này hỗ trợ sự kiên trì của cá nhân và tìm ra con đường khác để đạt được mục tiêu mong muốn cho dù có bất kỳ trở ngại nào có thể phát sinh.