CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ LO ÂU CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu về mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống và lo âu 1. Nghiên cứu ngoài nước về mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống và lo âu Ngày nay, dưới sự phát triển của xã hội, chất lượng cuộc sống con người dần trở thành một vấn đề mới nổi được nhiều sự quan tâm. Trong những năm gần đây, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về chất lượng cuộc sống.
Các nghiên cứu ban đầu tập trung vào chất lượng cuộc sống ở lĩnh vực sức khỏe thể chất, đặc biệt là ở các bệnh nhân đang được điều trị các bệnh ở trong bệnh viện. Mục đích của việc nghiên cứu đó là nhằm tìm ra các yếu tố liên quan đến chất lượng cực sống của bệnh nhân, đây là một trong những cơ sở để đánh giá hiệu quả điều trị (Wilson & Cleary, 1995). Bên cạnh đó, kết quả này còn là cơ sở để cải thiện cuộc sống của họ trong và sau khi điều trị. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: nghiên cứu của Guyatt et al.
(1993) đã chỉ ra 2 yếu tố lớn của chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe là chức năng về thể lý, và chức năng về cảm xúc, hai yếu tố này có giá trị ngang nhau trong đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh. Wilson & Cleary (1995) đã phân chia 5 cấp độ để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trong điều trị là đặc điểm sinh học và thể chất, trạng thái của các triệu chứng, trạng thái chức năng, nhận thức chung về sức khỏe và cuối cùng là tổng thể về chất lượng cuộc sống. Trong nghiên cứu của Patrick et al. (1995) về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân đau lưng thần kinh toạ, 3 yếu tố được sử dụng là triệu chứng, chức năng, tình trạng suy nhược.
Như vậy nhiều nhà khoa học đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe. Tuy nhiên do tập trung nghiên cứu về sức khỏe thể chất trên nhóm người bệnh nên các đặc điểm của chất lượng cuộc sống chung thì chưa được xem xét đầy đủ. Quan tâm đến cả vấn đề tâm lý xã hội trong khám phá chất lượng cuộc sống, tác giả Testa & Simonson (1996) đã khái quát 3 miền đo của chất lượng cuộc sống là thể chất, tâm lý và xã hội. Hay như trong nghiên cứu của nhóm tác giả Kolotkin et al.
(2001), 5 yếu tố chính được xác lập là chức năng thể lý, lòng tự trọng, đời sống tình dục, khó khăn xã hội và công việc. Như vậy, các nghiên cứu trên đã chỉ ra được các đặc điểm của chất lượng cuộc sống, mặc dù chưa có sự thống nhất cho đến ngày nay, tuy nhiên có 12 một số điểm chung cơ bản được vạch ra như sau: thứ nhất là tập trung vào khía cạnh chủ quan của cá nhân. Thứ hai là chất lượng cuộc sống là một cấu trúc đa chiều. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid 19 bùng phát như hiện nay, vấn đề chất lượng cuộc sống của người dân đang nhận được rất nhiều sự quan tâm.
Nghiên cứu ở Bồ Đào Nha cho thấy những người mắc Covid 19 đang cách ly tại nhà có chất lượng cuộc sống thấp và mức độ lo âu cao, phụ nữ và người cao tuổi có mức lo âu cao nhất và chất lượng cuộc sống kém nhất. Những tác động kinh tế, xã hội tiêu cực và lo lắng có thể làm giảm chất lượng cuộc sống trong mùa dịch Covid (Ferreira et al. Người mắc Covid 19 có bệnh mãn tính từ trước (Samlani et al., 2021) báo cáo mức chất lượng cuộc sống kém hơn so với người mắc Covid 19 không có bệnh nền trước đó. Trong giai đoạn đầu mắc Covid 19, bệnh nhân có xu hướng lo âu nhiều hơn, các bệnh nhân có tình trạng bệnh càng nghiêm trọng thì càng suy giảm về sức khỏe thể chất, tinh thần, cảm xúc sau khi xuất viện (Chen et al.
Các biện pháp để giảm bớt tác hại từ bởi dịch Covid 19 đã đuợc tìm hiểu. Trong đó, các mối quan hệ xã hội mang tính hỗ trợ góp phần vào việc giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch Covid đến sức khỏe thể chất và tinh thần (Samlani et al. Thực tế nghiên cứu tại Trung Quốc của tác giả Zhang & Ma (2020) cho thấy phần lớn những người tham gia nghiên cứu này nhận được sự quan tâm, hỗ trợ nhiều hơn từ người thân, bạn bè. Song song với sự hỗ trợ xã hội, tính chủ động luyện tập của cá nhân là cần thiết, nghiên cứu của Qi et al.
(2020) cho biết thời gian ngồi lâu ở nhà sẽ giảm chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của những người đang thực hiện dãn cách tại nhà, nghiên cứu này đề xuất các biện pháp tập thể dục tại nhà để cải thiện chất lượng cuộc sống. Lo âu là một chủ đề đã nhận được sự quan tâm ngày từ thế kỷ IV trước Công nguyên, ngươi đặt nền móng nghiên cứu đầu tiên chính là Hippocrates, ông đã nêu ra một trường hợp điển hình: Nicanor đi dự một bữa tiệc, anh ta cảm thấy sợ hãi vì tiếng huýt sáo của một cô gái. Kể từ đó mỗi khi nghe thấy tiếng sáo cât lên trong một hội nghị, một nỗi kinh hoàng được dấy lên. Anh ta chỉ chịu ảnh hưởng bởi tiếng sáo vào buổi tối còn ban ngày thì bình thường.
Các triệu chứng đó tồn tại một thời gian dài (Smith, 1994). Đây là một trường hợp điển hình của rối loạn về y tế. Cicero (Khoảng thế kỷ I trước Công nguyên) cho rằng phiền muộn, lo lắng, lo âu là rối loạn do sự tương đồng giữa 13 một tâm hồn rắc rối và một cơ thể bệnh tật. Lo lắng ở đây được phân biệt khác với buồn bã.
Và chính Cicero cũng đã mô đưa ra quan điểm rằng lo âu là một chứng rối loạn “co thắt” (constricting). Boissier de Sauvages (1772) đã viết quyển sách phân loại bệnh tật bằng tiếng Latin cuối cùng, trong đó ông cho rằng Panophobia là một loại rối loạn xếp trong nhóm Morositates, và định nghĩa Panophobia là nỗi sợ hãi kinh hoàng, một nỗi sợ hãi vào ban đêm mà không có bất kỳ nguyên nhân rõ ràng. Những mô tả này khiến ta nhớ đến GAD. Về sau Kraepelin (1927) đã mô tả lo âu (Angst) như là đau khổ bất thường thường gặp nhất.
Lo âu được mô tả là mối liên hệ giữa một căng thẳng nội tâm và một loại rối loạn trương lực cơ. Freud là người đã tách rối loạn thần kinh lo âu từ chứng chứng loạn thần kinh. Trong DSM I rối loạn lo âu được đồng nhất với chứng loạn thần kinh (psychoneurotic disorders) và ở DSM II cũng khẳng định rằng lo âu là đặc điểm chính của các chứng loạn thần kinh. Từ DSM III trở đi, người ta chia nhỏ rối loạn lo âu và đến DSM V thì có 3 nhóm rối loạn lo âu chính là rối loạn lo âu, rối loạn ám ảnh cưỡng chế và rối loạn liên quan đến sang chấn (Crocq, 2015).
Ở trong nghiên cứu này, hướng đi chính tập trung vào rối loạn lo âu lan tỏa do rối loạn lo âu lan tỏa là một trong những rối loạn phổ biến trong dân số. Theo tiêu chí của DSM IV, thì tỷ lệ mắc GAD trong dân số Hoa Kỳ là 2,1% và mắc suốt đời là 4,1% (Grant et al. Đi sâu hơn vào bối cảnh của nghiên cứu hiện tại, khi dịch Covid 19 vẫn đang bùng phát ở nhiều nơi trên thế giới. Theo đó có nhiều nghiên cứu về rối loạn lo âu trong thời gian dịch Covid 19.
Một nghiên cứu tại 2101 người trưởng thành tại Hoa Kỳ cho thấy tỷ lệ lưu hành của GAD là 17,4%, cao hơn 8% so với lần sóng Covid 19 lần thứ nhất tại quốc gia này. Những người mắc GAD trong thời điểm này có mức độ quan tâm đến tin tức về dịch bệnh cao hơn đáng kể, chất lượng cuộc sống kém hơn và ít tin tưởng vào chính sách của chính phủ về phòng chống đại dịch (Cordaro et al. Nghiên cứu khác tại đây cũng chỉ ra rằng Thời gian lên mạng để tìm kiếm thông tin về dịch Covid 19 càng lớn >4 giờ/ ngày thì mức độ lo âu càng tăng (Singh et al. Giống với các nghiên cứu trên, thống kê tại Bangladesh cho thấy rằng gần một nửa (49,1%) người dân tại đây trải qua lo âu do dịch Covid 19, những người tiếp xúc với mạng xã hội hơn 4 giờ/ngày có mức độ lo âu cao hơn nhóm người tiếp xúc với mạng 14 xã hội nhỏ hơn 2 giờ/ngày (Islam et al.
Từ kết quả này, ta cũng có thể đề xuất việc quản lý thông tin trên các phương tiện truyền thông trực tuyến sẽ có thể giúp kiểm soát tình trạng rối loạn lo âu. Tại UAE, tỷ lệ lưu hành của GAD trong dịch Covid 19 là 71%, phân tích thấy phụ nữ có lo âu cao hơn nam giới, những bậc cha mẹ có triệu chứng lo âu báo cáo tình trạng rối loạn cảm xúc ở con cái cao hơn 7 lần (Saddik et al,. Nghiên cứu này đã cho chúng ta thấy được sự tác động trực tiếp, gián tiếp của Covid 19 đến đời sống của nhân dân và đặc biệt là trẻ em UAE, đây là một cơ sở quan trọng cho thấy cần phải có các biện pháp hỗ trợ tâm lý tới người dân. Một nghiên cứu trên một số lượng mẫu lớn tại Đức cho thấy rằng dịch Covid 19 và chính sách của chính phủ làm tăng tình trạng rối loạn lo âu của người dân nước này, tuy nhiên sự gia tăng về lo lắng lại không liên quan trực tiếp đến nỗi sợ bệnh do Covid, sợ nhiễm Covid mà được gây ra bởi những lo lắng chung về cuộc sống (Bäuerle et al.
Như vậy việc ban bố các chính sách cũng phải tính toán đến nỗi lo lắng của người dân về sinh hoạt, đời sống của họ, cần thiết là phải có các biện pháp hỗ trợ đi kèm nhằm giải quyết các vấn đề lo lắng phát sinh chứ không thể để tình trạng “ nước đến chân mới nhảy”, Nghiên cứu mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống và tình trạng rối loạn lo âu lan tỏa đã cho thấy rằng, người mắc GAD có chất lượng cuộc sống thấp hơn những người không mắc GAD (Bourland et al., 2000), những bệnh nhân GAD được điều trị bằng liệu pháp nhận thức hành vi báo cáo sự nâng cao chất lượng cuộc sống (Eng et al. Bên cạnh đó khi xem xét các mối liên hệ giữa trầm cảm và GAD cho thấy các triệu chứng GAD có mối quan hệ với chứng trầm cảm (Hettema, 2008; Schoevers et al.