Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển, việc nâng cao chất lượng cuộc sống (Quality of Life - QOL) trở thành vấn đề nhận được sự quan tâm rộng rãi của các ngành khoa học hành vi và y tế công cộng. Khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát trên quy mô toàn cầu, sự xáo trộn về điều kiện sống, hình thức học tập trực tuyến và các áp lực tâm lý - xã hội đã gia tăng tỷ lệ mắc các rối loạn tâm thần, đặc biệt là rối loạn lo âu lan tỏa (Generalized Anxiety Disorder - GAD). Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, giáo dục lớn với số lượng sinh viên tập trung đông đảo. Sự chuyển đổi phương thức đào tạo và những tác động của đại dịch đã tạo ra nhiều khó khăn trong việc thích ứng, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe tinh thần và chất lượng cuộc sống của sinh viên.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HrQOL) trên bệnh nhân lâm sàng, trong khi mối quan hệ tác động qua lại giữa rối loạn lo âu và chất lượng cuộc sống ở đối tượng sinh viên đại học chưa được khảo sát đầy đủ. Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Tâm lý học (Mã số: 37.01) của tác giả Phạm Quang Đạo, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Duy Hùng tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2022), được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là xác định mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống và lo âu của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh. Để đạt được mục đích đó, tác giả xác định hai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống, lo âu và mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống và lo âu.
  2. Khảo sát thực trạng chất lượng cuộc sống, lo âu và phân tích mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống với lo âu của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống và lo âu (tiếp cận dưới góc độ rối loạn lo âu lan tỏa).
  • Khách thể nghiên cứu: 308 sinh viên đang theo học tại 6 trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm: Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (HCMUE), Trường Đại học Kinh tế TP.HCM (UEH), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG-HCM (HCMUS), Trường Đại học Sài Gòn (SGU), Trường Đại học Công nghệ TP.HCM (HUTECH) và Trường Đại học Y Dược TP.HCM (YDS).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát thực tiễn được thu thập từ tháng 02/2022 đến tháng 03/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận cơ sở lý luận dựa trên các khung lý thuyết chuẩn hóa quốc tế:

  • Khung lý thuyết về chất lượng cuộc sống: Tiếp cận theo định nghĩa và mô hình cấu trúc 4 chiều kích của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1995/2013), bao gồm: Sức khỏe thể chất, Sức khỏe tinh thần/tâm lý, Quan hệ xã hội và Môi trường sống. Khái niệm QOL được nhìn nhận dưới góc độ chủ quan của cá nhân về vị thế cuộc sống trong bối cảnh văn hóa và hệ giá trị.
  • Khung lý luận về rối loạn lo âu lan tỏa (GAD): Dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán của Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần phiên bản thứ 5 (DSM-5) của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (APA, 2013) và Bảng phân loại quốc tế bệnh tật ICD-10 (mã F41.1) của WHO. Rối loạn này được định trưng bởi sự lo âu, lo lắng quá mức, dai dẳng ít nhất 6 tháng về nhiều sự kiện, khó kiểm soát và kèm theo các triệu chứng cơ thể.
  • Các quan điểm tâm lý học giải thích: Tác giả sử dụng góc nhìn của Phân tâm học (quan điểm của Freud về cơ chế phòng vệ và kìm nén xung năng), Tâm lý học nhân văn (quan điểm của Rogers về sự bất nhất giữa cái tôi thực tế và lý tưởng; tháp nhu cầu Maslow) và Tâm lý học tích cực hiện đại để làm rõ cơ chế tác động tiêu cực của lo âu đến các miền cảm nhận chất lượng sống.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên ngành trong và ngoài nước nhằm xây dựng khung khái niệm công cụ và giả thuyết nghiên cứu.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
    • Thang đo WHOQOL-BREF (WHO): Bản dịch tiếng Việt chuẩn hóa gồm 26 câu hỏi Likert 5 mức độ, đánh giá 4 lĩnh vực (Thể chất: 7 mục; Tinh thần: 6 mục; Quan hệ xã hội: 3 mục; Môi trường: 8 mục; cùng 2 câu đánh giá chung). Điểm số được chuyển đổi về thang điểm 100 theo công thức chuẩn của WHO (Hệ số tin cậy Cronbach's Alpha = 0,889).
    • Thang đo GAD-7 (Spitzer et al., 2006): Bản chuẩn hóa bởi Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng gồm 7 chỉ báo, thang điểm 0-3 (Tổng điểm 0-4: Không lo âu; 5-9: Lo âu nhẹ; 10-14: Lo âu vừa; 15-21: Lo âu nặng). Hệ số tin cậy Cronbach's Alpha = 0,847.
    • Thông tin nhân khẩu học: Giới tính, năm học, trường, diện liên quan COVID-19, học lực và điểm rèn luyện.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc với sinh viên để làm rõ sâu sắc hơn nguyên nhân và các biểu hiện tâm lý cụ thể liên quan đến áp lực học tập, thi cử và việc làm.
  • Phương pháp thống kê toán học: Toàn bộ dữ liệu được mã hóa và xử lý trên phần mềm SPSS 22.0 bằng các kỹ thuật: Thống kê mô tả (Tần số, Tỷ lệ %, Điểm trung bình - Mean, Độ lệch chuẩn - SD); Phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA) kèm kiểm nghiệm hậu kiểm Scheffe; Kiểm định tương quan Pearson; Phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến và kiểm tra đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai (VIF).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống và lo âu của sinh viên

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về QOL và GAD. Tác giả chỉ ra xu hướng nghiên cứu quốc tế chuyển dịch từ việc xem xét thuần túy sức khỏe thể chất (HrQOL) ở bệnh nhân sang cấu trúc đa chiều mang tính chủ quan trong cộng đồng. Tổng quan lịch sử nghiên cứu lo âu từ thời Hippocrates, Cicero đến DSM-5 và ICD-10 được phân tích mạch lạc. Tác giả chứng minh rằng các nghiên cứu trên thế giới tập trung vào chiều tác động của GAD làm suy giảm QOL (do lo âu là chỉ báo dự đoán đầu vào của cảm nhận sống), trong khi tại Việt Nam mảng đề tài này chưa được quan tâm tương xứng.

Về mặt lý luận, tác giả làm rõ các đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên (từ 18 đến 25 tuổi) — giai đoạn chuyển tiếp quan trọng khi sinh viên phải tự lập, đối mặt với áp lực học tập chuyên môn, tài chính, việc làm thêm và các mối quan hệ xã hội. Khái niệm công cụ được xác lập: Mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống và lo âu của sinh viên là sự tác động mang tính tiêu cực của những lo âu/lo lắng quá mức kéo dài ít nhất 6 tháng lên cảm nhận của sinh viên về thể chất, tinh thần, quan hệ xã hội và môi trường trong bối cảnh sống cụ thể. Chương 1 thiết lập cơ sở vững chắc cho việc xây dựng các giả thuyết: (1) QOL của sinh viên ở mức trung bình; (2) Mức độ lo âu ở mức nhẹ; (3) Lo âu tác động tiêu cực đến QOL.

Chương 2: Tổ chức nghiên cứu và kết quả nghiên cứu mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống và lo âu của sinh viên

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu 2 giai đoạn (Lý luận và Thực tiễn qua 5 công đoạn), các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu (tự nguyện, bảo mật thông tin, quyền dừng tham gia) và trình bày toàn bộ kết quả phân tích định lượng từ 308 khách thể khảo sát.

Đặc điểm nhân khẩu học Phân nhóm Số lượng (N = 308) Tỷ lệ (%)
Trường Đại học Trường Đại học Kinh tế TP.HCM (UEH) 98 31,82
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (HCMUS) 58 18,82
Trường Đại học Công nghệ TP.HCM (HUTECH) 43 13,96
Trường Đại học Sài Gòn (SGU) 42 13,64
Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (HCMUE) 40 12,99
Trường Đại học Y Dược TP.HCM (YDS) 27 8,77
Giới tính Nữ 183 59,42
Nam 125 40,58
Năm học Năm thứ nhất 102 33,13
Năm thứ ba 76 24,68
Năm thứ tư 70 22,71
Năm thứ hai 60 19,48
Tình trạng dịch COVID-19 Không mắc / Không tiếp xúc 223 72,41
Diện F1 36 11,69
Mới khỏi bệnh 21 6,82
Diện F0 16 5,19
Diện F2 12 3,89
Điểm trung bình học tập Khá 146 47,41
Giỏi 115 37,34
Trung bình 23 7,46
Xuất sắc 22 7,14
Yếu 2 0,65

Thực trạng chất lượng cuộc sống của sinh viên được phân tích cụ thể qua 4 chiều kích theo thang điểm 100:

Chiều kích chất lượng cuộc sống Kém (%) Trung bình (%) Tốt (%) Điểm trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn (SD) Xếp hạng
Môi trường 8,5 39,6 51,9 65,05 13,33 1
Sức khỏe thể chất 8,8 51,3 39,9 63,87 12,24 2
Sức khỏe tinh thần 14,6 45,5 39,9 61,21 13,45 3
Quan hệ xã hội 17,5 33,8 48,7 60,93 17,58 4
Chất lượng cuộc sống chung 5,8 52,3 41,9 62,70 11,36 --

Điểm trung bình QOL chung đạt 62,70 (mức trung bình). Phân tích từng chỉ báo đơn lẻ cho thấy ở miền thể chất, sinh viên tự đánh giá cao về năng lượng cho hoạt động thường ngày (Q10: Mean = 3,95; SD = 0,78), nhưng thấp nhất ở nhu cầu chăm sóc y tế và ảnh hưởng thương tật thể xác (Q4: Mean = 3,32; Q3: Mean = 3,20). Ở miền tinh thần, chỉ báo cảm nhận cuộc sống có ý nghĩa xếp cao nhất (Q6: Mean = 3,69; SD = 0,90), trong khi khả năng tập trung đạt điểm thấp nhất (Q7: Mean = 3,19; SD = 0,77). Về quan hệ xã hội, sự giúp đỡ từ bạn bè được đánh giá cao nhất (Q22: Mean = 3,74; SD = 0,78), còn mối quan hệ khác giới thấp nhất (Q21: Mean = 3,02; SD = 1,02). Về môi trường, sinh viên hài lòng với điều kiện vật chất (Q23: Mean = 3,71) nhưng gặp áp lực về tài chính cá nhân (Q12: Mean = 3,28; SD = 0,87).

Về thực trạng rối loạn lo âu lan tỏa theo thang GAD-7: Điểm trung bình toàn mẫu là 6,90 (SD = 3,91), thuộc mức lo âu nhẹ.

Phân loại mức độ lo âu (GAD-7) Điểm cắt Số lượng (N) Tỷ lệ (%) Điểm trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn (SD)
Không lo âu 0 – 4 97 31,5 2,70 1,20
Lo âu nhẹ 5 – 9 133 43,2 6,79 1,31
Lo âu vừa 10 – 14 69 22,4 11,81 1,61
Lo âu nặng 15 – 21 9 2,9 16,22 1,09
Tổng cộng 308 100,0 6,90 3,91

Các biểu hiện GAD phổ biến nhất ở sinh viên gồm: Cảm giác bối rối, lo lắng và bực mình (Q1: Mean = 1,20; SD = 0,60); Lo lắng quá mức về nhiều điều khác nhau (Q3: Mean = 1,05; SD = 0,78); Dễ cáu kỉnh, bực bội (Q6: Mean = 1,02; SD = 0,76). Dữ liệu phỏng vấn sâu ghi nhận các nguồn cơn lo âu chủ yếu xuất phát từ áp lực chuẩn đầu ra ngoại ngữ (chứng chỉ TOEIC), học phí, nguy cơ chậm tiến độ tốt nghiệp và xung đột thời gian giữa đi làm thêm với học tập.

Phân tích kiểm định sâu về mối liên hệ giữa GAD và QOL mang lại các kết quả cốt lõi:

  • Kiểm nghiệm ANOVA & Scheffe: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về QOL giữa nhóm không mắc GAD (Mean = 67,19) với các nhóm có triệu chứng GAD (Sig. < 0,05). Hậu kiểm Scheffe chứng minh QOL suy giảm rõ rệt từ nhóm không lo âu sang nhóm nhẹ, vừa và nặng; tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm mức độ vừa và mức độ nặng.
  • Phân tích tương quan Pearson (trên nhóm có triệu chứng lo âu, n = 211): GAD có tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê ở mức 0,01 với tất cả các miền của QOL: Tinh thần ($r = -0,405$), Thể chất ($r = -0,378$), Xã hội ($r = -0,281$), Môi trường ($r = -0,277$) và QOL tổng thể ($r = -0,431$).
  • Phân tích hồi quy tuyến tính: Rối loạn lo âu lan tỏa giải thích được 18,6% sự biến thiên của chất lượng cuộc sống tổng thể ($R^2\text{ hiệu chỉnh} = 0,186; p < 0,001$). Mức độ tác động tiêu cực của GAD mạnh nhất lên miền tinh thần ($\beta = -0,405$), tiếp theo là thể chất ($\beta = -0,378$), xã hội ($\beta = -0,281$) và môi trường ($\beta = -0,277$). Hệ số VIF nằm trong khoảng từ 1 đến 2, khẳng định mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã thu được các kết quả định lượng cụ thể:

  • Xác định điểm chất lượng cuộc sống trung bình của sinh viên 6 trường đại học tại TP.HCM đạt mức trung bình ($62,70 \pm 11,36$). Thứ tự đánh giá các chiều kích từ cao xuống thấp là: Môi trường ($65,05 \pm 13,33$) > Thể chất ($63,87 \pm 12,24$) > Tinh thần ($61,21 \pm 13,45$) > Quan hệ xã hội ($60,93 \pm 17,58$).
  • Xác định tỷ lệ sinh viên có biểu hiện rối loạn lo âu lan tỏa ở các mức độ: 43,2% lo âu nhẹ, 22,4% lo âu vừa và 2,9% lo âu nặng (tổng cộng 68,5% có biểu hiện lo âu từ nhẹ đến nặng). Điểm trung bình GAD-7 toàn mẫu là $6,90 \pm 3,91$.
  • Chứng minh thực nghiệm mối tương quan nghịch và tác động dự báo tiêu cực của GAD lên toàn bộ 4 chiều kích của QOL, giải thích 18,6% phương sai của chất lượng cuộc sống chung, trong đó chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là sức khỏe tinh thần ($\beta = -0,405$) và thể chất ($\beta = -0,378$).

Về mặt giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:

  • Đối với sinh viên: Chủ động nhận diện sớm các dấu hiệu bối rối, lo âu, mất kiểm soát cảm xúc; xây dựng kỹ năng quản lý thời gian và sắp xếp tài chính hợp lý; chủ động tìm kiếm sự trợ giúp tâm lý và y tế khi cần thiết.
  • Đối với nhà trường và giảng viên: Cần quan tâm theo dõi các biểu hiện tâm lý bất thường ở người học; tổ chức định kỳ các buổi sinh hoạt chuyên đề, hội thảo hướng dẫn kỹ năng giải tỏa căng thẳng và ứng phó với áp lực học tập; tăng cường hiệu quả hoạt động của các trung tâm tham vấn tâm lý học đường.
  • Về mặt chính sách hỗ trợ: Đẩy mạnh các nguồn lực hỗ trợ sinh hoạt phí, học bổng (tương tự chính sách hỗ trợ sinh hoạt phí ngành sư phạm) nhằm giảm bớt gánh nặng tài chính cá nhân cho sinh viên.

Về mặt đóng góp học thuật, đây là một trong những công trình tiên phong tại Việt Nam thực hiện đo lường đồng thời và kiểm định mô hình tác động của rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) lên cấu trúc 4 chiều kích của chất lượng cuộc sống (WHOQOL) trên nhóm khách thể sinh viên trong giai đoạn bình thường mới sau đại dịch COVID-19.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế dựa trên phạm vi nghiên cứu được tác giả trình bày:

  • Cỡ mẫu khảo sát gồm 308 sinh viên được chọn theo phương pháp thuận tiện tại 6 trường đại học trên địa bàn TP.HCM, chưa bao phủ toàn diện các khối ngành và chưa mang tính đại diện tuyệt đối cho toàn bộ sinh viên tại khu vực phía Nam.
  • Thiết kế nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional) tại một thời điểm (tháng 2 - tháng 3/2022) phản ánh trạng thái tâm lý tức thời sau giai đoạn dịch bệnh, chưa theo dõi được sự biến thiên của các chỉ số theo thời gian học tập.
  • Nghiên cứu tập trung vào mô hình tác động trực tiếp của GAD đến QOL mà chưa phân tích sâu các biến điều tiết hay trung gian (như lòng tự trọng, nhận thức hỗ trợ xã hội đa chiều) trong mô hình cấu trúc tổng thể.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát tại nhiều tỉnh thành; áp dụng thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study); kết hợp thử nghiệm các chương trình can thiệp tâm lý lâm sàng nhằm giảm mức độ GAD và đánh giá hiệu quả phục hồi chất lượng cuộc sống cho sinh viên.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên cao học ngành Tâm lý học, Xã hội học, Giáo dục học và Y tế công cộng: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận kết hợp thang đo WHOQOL-BREF và GAD-7, cách xử lý số liệu nâng cao trên SPSS (ANOVA, Scheffe, Hồi quy, kiểm định VIF).
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 1 (hệ thống hóa cơ sở lý luận chi tiết về các mô hình cấu trúc QOL và bệnh học GAD) và các bảng thống kê chi tiết từng chỉ báo (Bảng 2.3, 2.4, 2.5, 2.7) trong Chương 2 làm cơ sở đối sánh dữ liệu thực nghiệm cho các đề tài cùng chủ đề.
  • Cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên và chuyên viên tham vấn học đường: Cung cấp bức tranh thực trạng về sức khỏe tâm thần và các áp lực thực tế của sinh viên đại học để xây dựng chính sách chăm sóc sức khỏe tinh thần phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng các công cụ chuẩn hóa nào để thu thập dữ liệu?

Khóa luận sử dụng hai bộ công cụ chuẩn hóa quốc tế đã được Việt hóa: Thang đo chất lượng cuộc sống rút gọn WHOQOL-BREF của Tổ chức Y tế Thế giới (26 câu hỏi, đánh giá 4 lĩnh vực Thể chất, Tinh thần, Xã hội, Môi trường, độ tin cậy $\alpha = 0,889$) và Thang đo rối loạn lo âu lan tỏa GAD-7 của Spitzer et al. được chuẩn hóa bởi Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng (7 câu hỏi, độ tin cậy $\alpha = 0,847$).

2. Tỷ lệ sinh viên có biểu hiện rối loạn lo âu lan tỏa trong khảo sát là bao nhiêu?

Theo kết quả khảo sát trên 308 sinh viên theo thang GAD-7, có 31,5% sinh viên không có biểu hiện lo âu (0-4 điểm), 43,2% sinh viên ở mức lo âu nhẹ (5-9 điểm), 22,4% sinh viên ở mức lo âu vừa (10-14 điểm) và 2,9% sinh viên ở mức lo âu nặng (15-21 điểm). Điểm trung bình GAD-7 toàn mẫu đạt 6,90 (mức lo âu nhẹ).

3. Trong 4 chiều kích của chất lượng cuộc sống, chiều kích nào được sinh viên đánh giá cao nhất và thấp nhất?

Chiều kích Môi trường đạt điểm trung bình cao nhất với 65,05 điểm ($SD = 13,33$; 51,9% đạt mức tốt). Chiều kích Quan hệ xã hội đạt điểm trung bình thấp nhất với 60,93 điểm ($SD = 17,58$; 17,5% ở mức kém). Chiều kích Thể chất đạt 63,87 điểm và Tinh thần đạt 61,21 điểm.

4. Rối loạn lo âu lan tỏa tác động tiêu cực nhất đến chiều kích chất lượng cuộc sống nào?

Phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy GAD tác động tiêu cực mạnh nhất đến chiều kích Sức khỏe tinh thần ($\beta = -0,405; p < 0,001$), kế tiếp là chiều kích Sức khỏe thể chất ($\beta = -0,378; p < 0,001$), Quan hệ xã hội ($\beta = -0,281; p < 0,001$) và Môi trường ($\beta = -0,277; p < 0,001$). GAD giải thích được 18,6% sự biến thiên của chất lượng cuộc sống tổng thể ($R^2\text{ hiệu chỉnh} = 0,186$).

5. Kết quả kiểm định Scheffe về sự khác biệt chất lượng cuộc sống giữa các mức độ lo âu chỉ ra điều gì?

Kiểm định Scheffe chỉ ra rằng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) về chất lượng cuộc sống giữa nhóm không lo âu với tất cả các nhóm còn lại (nhẹ, vừa, nặng), cũng như giữa nhóm lo âu nhẹ với nhóm vừa và nặng. Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chất lượng cuộc sống giữa nhóm lo âu mức độ vừa và nhóm lo âu mức độ nặng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Quang Đạo đã hệ thống hóa chặt chẽ cơ sở lý luận và kiểm định thành công mô hình thực nghiệm về mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống và rối loạn lo âu lan tỏa trên mẫu 308 sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy chất lượng cuộc sống của sinh viên đạt mức trung bình ($62,70/100$) và mức độ lo âu trung bình ở ngưỡng nhẹ ($6,90/21$), đồng thời chứng minh các triệu chứng lo âu lan tỏa có tác động tiêu cực trực tiếp, giải thích 18,6% sự suy giảm chất lượng cuộc sống, đặc biệt ở khía cạnh sức khỏe tinh thần và thể chất. Công trình cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm đáng tin cậy và cơ sở khoa học quan trọng cho việc định hình các biện pháp hỗ trợ tâm lý học đường nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần cho sinh viên đại học.