phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận án bao gồm 4 chương, 13 tiết. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2. Điều kiện và tiền đề cho sự phát triển của Nho giáo Việt Nam thời Lý - Trần Chương 3. Nội dung và đặc điểm của tư tưởng Nho giáo Việt Nam thời Lý - Trần Chương 4.
Ý nghĩa lịch sử của Nho giáo Việt Nam thời Lý - Trần 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Đề tài mà tác giả lựa chọn, từ các khía cạnh và mức độ khác nhau, đã được tiếp cận ở các công trình nghiên cứu trước đó. Do vậy, việc tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài là điều hết sức cần thiết. Nó là cơ sở khoa học cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài, đồng thời sẽ giúp ích cho quá trình nghiên cứu của tác giả tránh lặp lại kết quả nghiên cứu của người khác trong việc đưa ra cái mới của luận án.
Nghiên cứu về Nho giáo Việt Nam, trong đó có Nho giáo thời Lý - Trần, không chỉ thu hút các nhà nghiên cứu trong nước mà còn ở nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài. Theo thống kê trong cuốn ục Nho giáo Việt Nam do Trịnh Khắc Mạnh chủ biên (2007), chỉ tính đến năm 2007, đã có 2005 đơn vị tài liệu về Nho giáo Việt Nam với các ngôn ngữ Việt, Hán, Nôm, Trung, Pháp và Anh. Tư liệu về Nho giáo Việt Nam rất phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức thể loại và văn tự. Trong các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam, liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, có thể khái quát một số thành quả đạt được và những vấn đề đặt ra cần được tiếp tục làm rõ từ các công trình nghiên cứu ở ba nhóm sau: 1.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến điều kiện và tiền đề cho sự phát triển của Nho giáo Việt Nam thời Lý - Trần Có thể tìm hiểu nội dung này ở các nghiên cứu về quá trình du nhập, phát triển của Nho giáo tại Việt Nam nói chung, trong đó có giai đoạn Lý - Trần. Tiêu biểu là những công trình nghiên cứu của các tác giả: Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Nguyễn Đăng Thục, Trần Văn Giàu, Vũ Khiêu, Lê Sỹ Thắng, Nguyễn Tài Thư, Phan Đại Doãn, Phan Văn Các, Lê Văn Quán, Nguyễn Đăng Duy, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Đức Sự, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Thế Long, Nguyễn Hùng Hậu, Trần Nghĩa, Doãn Chính, Nguyễn Sinh Kế, Trần Nguyên Việt, Lê Thị Lan, Nguyễn Thế Kiệt, Nguyễn Thanh Bình, Đỗ Thị Hòa Hới, Dương Tuấn Anh, Ngô Vũ Hải Bằng… Hầu hết các tác giả trên đây đều thống nhất quan điểm cho rằng, Nho giáo được du nhập vào nước ta từ đầu thời Bắc thuộc và thời kỳ đầu khi mới du nhập vào 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam, Nho giáo chủ yếu được nhìn nhận với tư cách là công cụ tinh thần của các tập đoàn phong kiến Trung Hoa xâm lược. Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo chưa có ảnh hưởng gì nhiều đối với xã hội và con người Việt Nam. Họ cho rằng, Nho giáo chỉ thực sự được người Việt Nam lựa chọn và sử dụng từ thời Lý trở đi.
Theo tác giả, để tránh đưa ra những nhận định chủ quan, giản đơn và phiến diện, cần đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng phương pháp duy vật lịch sử để nghiên cứu Nho giáo ở Việt Nam. Phải trên cơ sở nghiên cứu những điều kiện xã hội cụ thể, chúng ta mới nắm được thực chất nội dung Nho giáo diễn biến qua các thời kỳ lịch sử. Tác giả đã đưa ra một số nhận định khách quan, khoa học về tiến trình tiếp biến Nho giáo ở Việt Nam. Ông khẳng định: “Không thể có một thứ Nho giáo nhất thành bất biến, thích ứng ở khắp mọi nơi, mọi lúc” [157, tr.
13]; “Vì lợi ích giai cấp, nhà nước phong kiến, qua các triều đại khác nhau, đã có những chủ trương và chế độ cụ thể nhằm phát triển Nho giáo” [157, tr. Theo tác giả, trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc và một thế kỷ sau ngày đất nước ta giành được độc lập, Nho giáo vẫn chưa có vai trò gì đáng kể trong xã hội Việt Nam. Từ thời Lý - Trần, Nho giáo mới có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, trong bài viết này, tác giả mới chỉ đưa ra những quan điểm mang tính định hướng cho việc nghiên cứu Nho giáo ở Việt Nam chứ chưa có những phân tích, dẫn chứng cụ thể.
Cũng trong cuốn sách này, tác giả Trương Chính có bài viết Cha ông chúng ã p thu những gì tích c c ở các ý th c hệ phong ki n c a Trung Qu c. Tác giả cho rằng ý thức hệ phong kiến đó bao gồm ba tư tưởng là Nho, Phật và Lão, đã được người Hán đưa vào nước ta từ thời Bắc thuộc. Trong đó, Nho giáo lâu bền và có ảnh hưởng sâu sắc nhất. Từ khi đất nước giành được nền tự chủ, giai cấp phong kiến Việt Nam đã chọn Nho giáo làm tư tưởng thống trị trong lĩnh vực chính trị và học thuật.
Có nhiều nguyên nhân đưa tới sự lựa chọn này, trong đó có một nguyên nhân vô cùng quan trọng, đó là sức sống của dân tộc: “Dân tộc Việt Nam muốn tồn tại thì phải chọn lấy một ý thức hệ tích cực, quan tâm đến con người, đến cuộc đời, đến xã hội, đến vận mệnh của dân tộc. Nho giáo có nhiều hạn chế, nhưng trong ba ý 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức hệ phong kiến thì phải nói, Nho giáo có nhiều nhân tố tích cực nhất” [157, tr. Như vậy, theo tác giả, trong thời độc lập, nhà nước phong kiến đã lựa chọn và thúc đẩy Nho giáo phát triển mạnh mẽ là vì nó giúp giải quyết các vấn đề do đời sống của người Việt Nam đề ra trên phương diện chính trị, xã hội. Tác giả Trần Văn Giàu (1993) trong cuốn S phát triển c ởng Việt Nam từ th kỷ XIX n Cách mạng tháng Tám [59] khi viết về quá trình Nho giáo vào Việt Nam đã khẳng định: Một thời gian trên dưới ngàn năm nước ta bị Hán, Đường đô hộ, Nho giáo tuy có phát triển mà không hề chiếm ưu thế trong nhân dân và cả trong tầng lớp trên nữa.
Theo tác giả, nguyên nhân là bởi đời sống đơn giản của nhân dân lúc đó chưa cần đến Nho giáo - một thứ học thuyết phải đèn sách lâu dài mới có thể thu nhận. Người dân Việt lúc đó lại không khỏi nhìn Nho giáo như một vũ khí xâm lược, thống trị, đồng hóa của nước ngoài, nó xung đột không nhiều thì ít với tư tưởng, tín ngưỡng, phong tục tập quán của đa số nhân dân. Bên cạnh đó, nhiều nhà nho đi theo một cái học vong bản, một cái học trọng người khinh mình làm cho nhân dân khó bề kính phục, cảm tình. Trong buổi đầu khi đất nước mới giành được độc lập, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê còn quá bận rộn với việc đuổi giặc ngoài, bình giặc trong, nên việc võ cấp thiết hơn việc văn, các nhà vua cũng ít lưu tâm đến việc học.
Vì vậy, Nho giáo chưa thịnh [59, tr. Tác giả khẳng định, kể từ thời Lý, do nhu cầu của việc trị nước và củng cố chế độ phong kiến, cho nên các triều đại này mặc dù sùng Phật nhưng không thể không cậy vào Nho giáo mỗi lúc một thêm nhiều. Cùng quan điểm với GS. Trần Văn Giàu, các tác giả Doãn Chính, Nguyễn Sinh Kế (2004) trong bài viết Về quá trình Nho giáo du nh p vào Việt Nam (từ u n th kỷ XIX) [21] cho rằng, từ thời Lý - Trần, Nho giáo mới bắt đầu được nhà nước phong kiến Việt Nam đề cao.
Nguyên nhân thứ nhất là vì chỉ có Nho giáo mới có thể giải đáp được những vấn đề thiết thực trong tổ chức nhà nước và quản lý xã hội. Thứ hai, việc đề cao Nho giáo gắn với nhu cầu phát triển văn hóa giáo dục, vừa để đào tạo, bổ sung đội ngũ quan lại cho bộ máy nhà nước, vừa phục vụ cho sự phát triển văn hóa, nghệ thuật của đất nước. Tuy nhiên, các tác giả cho rằng, thời Lý - Trần, Nho giáo có phát triển nhưng cũng chỉ ảnh hưởng ở tầng lớp quan lại quý tộc phong kiến chứ chưa thâm nhập sâu rộng trong dân gian. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Nguyễn Đức Sự trong bài viết V trí và vai trò c a Nho giáo trong xã hội Việt Nam [147] và trong cuốn Nho giáo và khía cạnh tôn giáo c a Nho giáo [148] đã khẳng định: Trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc, ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam còn rất hạn chế.
Phải đến thế kỷ X, sau chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại của Ngô Quyền, khi dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên độc lập tự chủ và thực sự bắt tay vào xây dựng nền văn minh Đại Việt trong khuôn khổ của một nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền, thì xã hội Việt Nam lúc này mới đặt ra những yêu cầu đối với sự tồn tại và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam. Thứ nhất là yêu cầu xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến trung ương tập quyền lớn mạnh, yêu cầu củng cố trật tự đã bước đầu ổn định của một xã hội phong kiến và thực hiện thống nhất đất nước. Thứ hai là nhu cầu phát triển văn hóa và giáo dục của nước Việt Nam dưới chế độ phong kiến để cung cấp nhân viên cho bộ máy quan liêu cũng như thúc đẩy sự phát triển của nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Do đáp ứng được những nhu cầu đó, nên ngay từ thời Lý - Trần, Nho giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhà nước phong kiến Việt Nam.
Tác giả còn cho rằng, dưới thời Lý - Trần, Nho giáo tác động vào xã hội Việt Nam chủ yếu ở bình diện chính trị và ở một số mặt cơ bản của sinh hoạt văn hóa như giáo dục - khoa cử, văn học, sử học… Còn trong lĩnh vực phong tục tập quán, lễ nghi và nếp sống của người Việt thì ảnh hưởng của Nho giáo tuy có nhưng rất hạn chế và yếu ớt.