Chương I LỊCH SỬ VÀ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 1. Lịch sử về xung đột xã hội 1. Các quan niệm thời Cổ đại về xung đột xã hội Trong thời kỳ Cổ đại, con người đã quan tâm nghiên cứu xung đột xã hội và vai trò của nó đối với đời sống xã hội. Các nhà triết học Hy Lạp Cổ đại là những người đầu tiên làm sáng tỏ một cách tương đối bản chất của các cuộc xung đột xã hội.
Heraclít đã lập luận về các cuộc chiến tranh và xung đột xã hội dựa trên hệ thống các quan điểm chung về thế giới quan. Ông cho rằng chiến tranh và xung đột xã hội là quy luật chung duy nhất thống trị trên hành tinh và lập luận về vai trò tích cực của các cuộc xung đột đối với quá trình phát triển xã hội. Xung đột xã hội, theo Heraclít, hiện diện với tính cách là thuộc tính quan trọng và tất yếu của đời sống xã hội. Một mặt chia sẻ với các quan điểm của Heraclít, Epicơ cho rằng những hậu quả tiêu cực của các cuộc xung đột xã hội buộc mọi người phải sống trong trạng thái hòa bình và ổn định.
Những ước mơ về một trạng thái xã hội không có xung đột xã hội bước đầu được lập luận dựa vào những biện luận như vậy. Trong thời kỳ đầu phát triển của mình, triết học cơ đốc giáo cố gắng chứng minh tính ưu việt của hòa bình, của đồng thuận và tình anh em giữa mọi người với nhau. Một số nhà triết học cơ đốc giáo thế kỷ II và thế kỷ III đã lập luận chống lại các cuộc xung đột vũ trang, nhưng vào lúc đó, lập luận của các nhà triết học đó tác động không lớn đến quá trình phát triển tất yếu của lịch sử. Đến đầu thế kỷ IX với học thuyết “Khristos”, nguyên tắc về tính xung đột đã bắt đầu bị nghi ngời.
8 Trong thời kỳ Phục sinh, người ta đã nêu ra những đánh giá khác nhau và phức tạp về các cuộc xung đột xã hội. Trong thời kỳ này, những người theo chủ nghĩa nhân đạo thường xuyên lên án các cuộc xung đột xã hội và các cuộc xung đột vũ trang. Erazm Potterđamskij cho rằng xung đột xã hội có lôgic riêng là khi tất cả các tầng lớp dân cư của đất nước bị cuốn hút vào quỹ đạo của xung đột xã hội thì xung đột xã hội sẽ phản ứng theo phản ứng dây chuyền tương tư và phân tích tính phức tạp của việc rung hòa các quan điểm của các bên đối lập trong cuộc xung đột xã hội, thậm chí kể cả trường hợp khi cả hai bên cùng dựa trên quan điểm tư tưởng thống nhất. Nhà triết học người Anh Ph.Becơn lập luận về bản chất của các cuộc xung đột xã hội, phân tích các nguyên nhân dẫn đến các cuộc xung đột xã hội trong nội bộ đất nước, xem xét một cách cụ thể các điều kiện vật chất, chính trị và tâm lý của các cuộc xung đột xã hội và những phương thức khắc phục các cuộc xung đột đó.
Ông đặc biệt chú ý đến vai trò quyết định của các nguyên nhân vật chất đối với sự hình thành các vụ mất trật tự xã hội, các cuộc xung đột xã hội, một trong những nguyên nhân đó là tình trạng nghèo đói về vật chất của nhân dân.Becơn nhấn mạnh rằng, “trong quốc gia có bao nhiêu người bị bần cùng hóa thì có bấy nhiêu người sẵn sàng trở thành kẻ nổi loạn”1. Khi đưa ra các giải pháp ngăn ngừa các cuộc xung đột xã hội, ông cho rằng “mỗi một căn bệnh” đều có thứ thuốc của mình. Các giải pháp đó, theo Becơn là: xóa bỏ các nguyên nhân mang tính vật chất của các cuộc xung đột xã hội, nghệ thuật sử dụng các mánh khóe chính trị, có thủ lĩnh thích hợp có khả năng hợp nhất mọi người lại với nhau và khả năng đàn áp các vụ lộn xộn và nổi loạn của dân chúng. Các quan niệm thời Cận đại về xung đột xã hội Trong thời kỳ này, các nhà dân chủ nước Anh và các nhà khai sáng nước Pháp công khai phê phán các cuộc xung đột vũ trang, sự xâm lược và dùng bạo lực.
Họ coi các cuộc xung đột vũ trang là những tàn tích của thời kỳ man rợ và cho rằng chỉ có việc xóa bỏ những nền tảng phong kiến mới tiến đến được nền 1 Becơn. Tuyển tập: 02 tập, M. 9 hòa bình vĩnh cửu. Chính vì vậy trong các công trình nghiên cứu của thời kỳ này, các nhà dân chủ nước Anh và các nhà khai sáng nước Pháp đã chú ý nhiều đến việc tìm kiếm các hình thức tổ chức hợp lý đời sống xã hội, loại trừ các nguyên nhân dẫn đến các cuộc xung đột xã hội vốn bám sâu vào các Nhà nước lỗi thời lúc đó.
Đến thế kỷ thứ XVIII các nhà tư tưởng đã cố gắn nhận thức lôgic thống nhất của sự phát triển thế giới, xem xét đời sống xã hội trong phạm vi lịch sử toàn thế giới. Tất cả các khía cạnh của những vấn đề đó được thể hiện rõ nét nhất trong triết lý của Zh.Russo (1712-1778) về xã hội. Quá trình lịch sử thế giới theo cách hiểu của Russo thì dường như được chia thành ba thời điểm cấu thành: trước hết, đó là sự tồn tại của “trạng thái tự nhiên” khi con người có được sự tự do và bình đẳng, tiếp đến là sự phát triển của nền văn minh làm cho con người bị mất đi trạng thái bình đẳng, tự do và hạnh phúc và cuối cùng, bằng việc ký kết “Khế ước xã hội”, con người lại một lần nữa tìm thấy sự hòa hợp vốn đã mất đi trong các quan hệ xã hội, tìm thấy “thế giới vĩnh hằng”, tìm thấy sự đồng thuận và sự thống nhất. Thật ra, những vấn đề trên đây làm bùng nổ các cuộc tranh luận sôi nổi của thời kỳ Cận đại.Kant cho rằng tình hình hòa bình giữa những người hàng xóm láng giềng không phải là trạng thái tự nhiên., ngược lại, tình hình chiến tranh là trạng thái tự nhiên, do vậy theo Kant hòa bình và đồng thuận cần phải được thiết lập.
Trong thời kỳ lịch sử Cận đại, người ta cũng đã nêu ra những ý kiến rất khác nhau về các nguyên nhân của các cuộc xung đột xã hội và triển vọng khắc phục chúng. Tuy nhiên, trong tất cả những ý kiến vốn vất đa dạng và khác nhau đó, người ta cũng tìm thấy khá nhiều điểm giống nhau chẳng hạn như đều thừa nhận vai trò quyết định của sự đồng thuận giữa mọi người với nhau đối với sự phát triển của xã hội; đều đánh giá tính chất tiêu cực của các cuộc nổi loạn, mất trật tự xã hội và chiến tranh đã xảy ra ở thời kỳ Trung đại, cũng như đều hy vọng tới một viễn cảnh “hòa bình vĩnh cửu” trong tương lai. Vào đầu thế kỷ XIX Heghen đã đánh giá các cuộc chiến tranh và các cuộc xung đột xã 10 hội theo một cách tiếp cận khác. Trước hết, ông bàn luận nhiều hơn về vai trò tích cực của các cuộc chiến tranh đối với sự phát triển xã hội.
Bản thân sự chuyển biến của quá trình lịch sử đặt ra nhu cầu phải nhận thức sâu sắc hơn các quá trình phát triển xã hội vốn rất phức tạp, do đó phải nhận thức sâu sắc hơn vai trò của các cuộc xung đột xã hội đối với đời sống xã hội. Trong thế kỷ XIX, các lý luận, học thuyết về xã hội bắt đầu nhìn nhận rằng, đấu tranh, các cuộc xung đột xã hội và các cuộc đụng độ không đơn giản là những hiện tượng có thể mà là những hiện tượng tất yếu của thực tiễn xã hội. Hơn thế nữa, xuất hiện những lý luận, học thuyết muốn lập luận cho sự hiện diện dường như vĩnh cửu của các nguyên nhân của các cuộc xung đột xã hội và bằng cách đó lập luận cho tính không thể tránh khỏi mang tính nguyên tắc của các cuộc xung đột trong đời sống xã hội. Trong công trình nghiên cứu “Kinh nghiệm về quy luật dân số”, nhà kinh tế học người An, linh mục Tomax Mal’tutx (1766-1834) cho rằng sự đấu tranh của mọi người vì các phương tiện tồn tại là hiện tượng tất yếu, còn các cuộc xung đột xã hội có thể xảy ra là nhân tố vĩnh cửu của sự phát triển xã hội.
Chủ nghĩa Đarwin về xã hội cố gắng lý giải sự tiến triển của đời sống xã hội bằng những quy luật sinh học của sự lựa chọn tự nhiên và đấu tranh sinh tồn. Gerbert Spenser (1820-1903) cho rằng quy luật xung đột là quy luật chung và là quy luật cơ bản, giới hạn sự phát triển xã hội mang tính ổn định trước, trong quá trình phát triển xã hội, quy luật này chỉ xuất hiện trên thực tế khi có sự mất cân bằng đáng kể giữa các dân tộc và chủng tộc. Lútvích Gumplovích (1838-1909) có cách tiếp cận mới trong phân tích lý luận về xung đột xã hội. Ông không coi các đặc điểm sinh học mà coi các đặc điểm của nền văn hóa là bản chất của sự khác biệt về chủng tộc và khẳng định rằng lịch sử toàn thế giới là lịch sử đấu tranh liên tục giữa các chủng tộc vì sự tồn tại của mình.
Cho nên, ông cho rằng không chỉ đi tìm nguồn gốc của các cuộc xung đột xã hội trong bản chất của con người mà còn phải đi tìm cả trong 11 những hiện tượng đặc biệt của các nền văn hóa mà xét về kiểu chúng rất phong phú và đa dạng. Cũng theo Lútvích các cuộc xung đột xã hội không phải là nhân tố duy nhất có vai trò quan trọng trong quá trình xã hội. Quá trình liên kết thống nhất hóa xã hội mà trên cơ sở đó Nhà nước và các cộng đồng xã hội rộng lớn hơn được thiết lập cũng giữ vai trò chẳng kém phần quan trọng. Tuy nhiên, ngay cả trong quá trình hình thành Nhà nước và các cộng đồng xã hội đó xung đột xã hội vẫn gữ vai trò quyết định vì rằng sự liên kết của các nhóm xã hội vốn là kết quả của cuộc xung đột xã hội.
Với tính cách là kết quả của cuộc đấu tranh giữa các nhóm xã hội với nhau sự thống nhất về một lề lối mới là điều có thể xảy ra.