Chương 1: Những tiền đề lý thuyết và tổng quan về địa bàn nghiên cứu Chương đầu tiên của luận văn chủ yếu làm rõ một số khái niệm và thuật ngữ cơ bản liên quan đến đề tài; những hướng tiếp cận lý thuyết và phương pháp làm nền tảng cho toàn bộ vấn đề nghiên cứu. Bên cạnh đó, chương này sẽ khái quát về địa bàn nghiên cứu bao gồm sự hình thành các khu công nghiệp; đặc điểm của đội ngũ công nhân ở Bình Dương hiện nay. Chương 2: Diễn ngôn của nhà nước và nhận thức của công nhân về nghề nghiệp và vị thế xã hội 10 Chương thứ hai của luận văn sẽ tập trung vào việc mô tả và phân tích nhận thức của công nhân về thân phận, nghề nghiệp và vị thế xã hội trong mối tương quan với diễn ngôn của nhà nước. Trái ngược với diễn ngôn đánh giá rất cao về vai trò của giai cấp công nhân của nhà nước vốn dựa trên những hệ tư tưởng mang tính lịch sử, những kết quả khảo sát trên thực tế cho thấy bản thân công nhân không đánh giá cao về nghề nghiệp và vị thế xã hội của mình.
Các ngôn từ mà công nhân sử dụng để nói về bản thân mình như: cây cỏ, cây rau, cỗ máy v.v… hay về nghề nghiệp và vị thế xã hội như: trung bình, lao động chân tay, bán sức khỏe v.v… đã phản ánh một phần nào hình ảnh thực tại về một bộ phận công nhân ở các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện nay. Nguyên nhân dẫn đến sự tương phản giữa những diễn ngôn của nhà nước với những nhận thức của công nhân xuất phát từ việc các diễn ngôn của nhà nước đã bị mã hóa trong một khung tư duy kinh tế - chính trị vốn bị chi phối bởi những hệ giá trị lịch sử và vì thế, đã đóng khung công nhân vào trong những vai trò và vị thế xã hội nhất định. Hệ quả là các diễn ngôn trên đã bỏ lỡ tiếng nói của công nhân xuất phát từ hoàn cảnh sống trên thực tế của họ. Chương 3: Diễn ngôn của những người yếu thế và sự thiếu vắng tiếng nói đối thoại Chương thứ ba sẽ đi vào phân tích những diễn ngôn của công nhân về những mâu thuẫn, xung đột trong các tương tác xã hội mà họ phải đối diện trong cuộc sống hàng ngày.
Qua những tương tác xã hội đã phản ánh nhận thức về thân phận yếu thế của công nhân khi tiếng nói của họ hiếm khi được lắng nghe một cách đầy đủ ở trong các cuộc đối thoại giữa công nhân và tổ chức xã hội của nhà nước. Sự thiếu vắng tiếng nói đối thoại là nguyên nhân khiến cho bản thân công nhân không dám công khai những suy nghĩ và ý kiến của mình một cách trực tiếp ở những nơi công cộng. Mặc dù vậy, bản thân công nhân không tỏ ra thụ động trong việc chấp nhận sự mặc định sẵn về vị thế xã hội cho mình từ bên ngoài mà trái lại, họ cũng có khả năng tự định vị, lựa chọn những giá trị cho riêng mình dựa trên những hoàn cảnh thực tế. Điều này chỉ được bộc lộ trong những nơi chốn an toàn và kín đáo ở hậu trường qua sự chủ động xây dựng những diễn ngôn và những chiến lược để đối phó 11 với những xung đột về mặt quyền lợi và kiểm soát những rủi ro mỗi khi xảy ra những va chạm, mà bản thân họ thường là những người phải gánh chịu những thiệt thòi, trong các tương tác xã hội hàng ngày.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 1. Các khái niệm liên quan Đầu tiên, nhằm làm rõ và tạo tiền đề cơ sở lý luận cho luận văn, chúng tôi sẽ tiến hành thao tác hóa khái niệm chính của đề tài, gồm các khái niệm chính là "giai cấp công nhân", "vị thế xã hội và nghề nghiệp", "diễn ngôn": - Giai cấp công nhân: Khi đề cập đến giai cấp công nhân, người ta thường nhắc đến Karl Marx và những học thuyết của ông. Karl Marx là người đã cống hiến cả sự nghiệp để đi tìm con đường giải phóng giai cấp, đặc biệt là giai cấp công nhân. Con đường giải phóng giai cấp mà Marx đề cập chính là con đường đấu tranh giai cấp, mà sứ mệnh giải phóng này thuộc về giai cấp vô sản và cụ thể là giai cấp công nhân (L.
Chính vì thế thuật ngữ “giai cấp” (class) được xem là thuật ngữ then chốt trong lý thuyết của Marx. Khái niệm Giai cấp trong bối cảnh chế độ tư bản được Marx dùng để đề cấp đến hai “cực đối lập” - giai cấp tư bản và giai cấp công nhân. Ông cho rằng khi tư bản phát triển thì trong xã hội càng ngày càng phân chia thành hai nhóm người kịch liệt chống đối nhau, thành hai giai cấp lớn trực tiếp đối mặt với nhau-giai cấp tư bản và giai cấp lao động. Marx phân biệt giai cấp trung lưu hay giai cấp tư bản chính là những người chủ sở hữu hệ thống sản xuất hay chính là những người thu được lợi nhuận từ việc bán hàng hóa hữu hình.
Còn người lao động hay giai cấp lao động là những người không sở hữu tư bản. Họ bị ép trao đổi sức lao động của họ vì đồng lương được những ông chủ tư bản trả. Sự mâu thuẫn lợi ích của hai giai cấp này đã dẫn đến sự xung đột giai cấp. Để tăng tối đa lợi nhuận của mình, giai cấp tư bản mở rộng sự kiểm soát của họ lên cơ cấu kinh tế xã hội và đẩy mức lương của những người lao động xuống thấp nhất có thể.
Mặt khác, giai cấp lao động từ chối quyền sở hữu và sự kiểm soát những sản phẩm từ chính sức lao động của họ, giai cấp này trở nên bị tha hóa khỏi toàn bộ quá trình sản xuất (James D. 13 Ông đặc biệt lưu ý đến sự mâu thuẫn giữa bản chất con người và những điều kiện dành cho lao động trong chủ nghĩa tư bản. Ông lý luận rằng dưới chế độ của chủ nghĩa tư bản, lao động bị bán như một món hàng hay nói cách khác con người đã bị hàng hóa hóa trong chế độ tư bản chủ nghĩa. Từ đây dẫn đến sự tha hóa (alienation) khỏi mọi thứ người công nhân, từ hành động sản xuất, đến các sản phẩm, v.
Sự tha hóa này thể hiện qua sự sùng bái những hàng hóa vốn che giấu cho mối quan hệ mâu thuẫn giữa tầng lớp trên (những người thu lợi nhuận) và tầng lớp lao động (những người cung cấp sức lao động để tạo ra lợi nhuận). Theo mạch tư duy của mình, Marx cho rằng sự mâu thuẫn giữa hai tầng lớp này sẽ sản sinh ra một cuộc khủng hoảng kinh tế, nơi đó hệ thống tư bản sẽ thất bại (hoặc bởi tự thân nó hoặc thông qua sự nhận thức giai cấp và cuối cùng đưa đến cuộc cách mạng và hệ thống tư bản) sẽ bị thay thế bởi chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, ông đã mong chờ một xã hội cộng sản thay thế cho xã hội đầy rẫy sự áp bức và xung đột này. Những nghiên cứu của Marx về mối quan hệ mâu thuẫn giữa những người chủ lao động và những người lao động trong xã hội tư bản đã được F.
Engels tiếp nối bằng cách khái quát những đặc điểm của giai cấp vô sản hay còn gọi là giai cấp công nhân. Ông đưa ra định nghĩa như sau: “Họ[những công nhân] là giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán sức lao động của mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống của họ đều phụ thuộc vào số cầu người lao động, tức là vào tình hình chuyển hướng tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không có gì ngăn nổi” (Karl Marx và F. Engels, 1994: 4)” Theo Engels, giai cấp công nhân là những người vô sản đã đạt tới một trình độ cao và do vậy, giai cấp công nhân được lựa chọn để tiến hành vai trò lịch sử trong việc loại bỏ hệ thống tư bản. Điều này buộc “người công nhân phải phát triển một ý thức giai cấp hay ý thức tập thể về lợi ích khách quan của họ xét như một giai cấp cách mạng” (James D.
Ý thức nói trên được hiểu rằng 14 giai cấp công nhân không chỉ đấu tranh vì mức lương èo uột được ông chủ tư bản trả mà họ cần phải ý thức mình là những chủ thể đối với nhận thức sai lạc của ý thức hệ tư bản (James D. Vì giai cấp tư bản kiểm soát nền tảng kinh tế của đời sống xã hội, cho nên giai cấp này cũng thống trị Thượng tầng cấu trúc (superstructure) ở chiều kích văn hóa và chính trị của xã hội tư bản. Marx cho rằng “trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là ở những tư tưởng thống trị (ruling ideas)” (James D. Như vậy, toàn bộ các thành phần của xã hội, bao gồm cả những người công nhân đều chịu sự ảnh hưởng văn hóa của một ý thức hệ vốn biện hộ và hỗ trợ cho lợi ích của giai cấp tư bản.
Ở Việt Nam, giai cấp công nhân xuất hiện trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam đang chịu sự cai trị của thực dân Pháp (Tony Bilton, Kevin Bonnett, Philip Jones, Ken Sheard, Michelle Stanworth và Andrew Webster, 1985: 132). Đặc biệt, kể từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã xác định vai trò chủ đạo của giai cấp công nhân trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, đặt trong bối cảnh đấu tranh giải phóng dân tộc (Tony Bilton, Kevin Bonnett, Philip Jones, Ken Sheard, Michelle Stanworth và Andrew Webster, 1985: 132). Giai cấp cấp công nhân, cùng với giai cấp nông dân được xem là lực lượng nòng cốt của cách mạng dân tộc. Sau giai đoạn hoàn thành cuộc cách mạng Việt Nam thống nhất đất nước, vai trò của giai cấp công nhân vẫn tiếp tục duy trì diễn ngôn trong các văn bản chính thống là giai cấp lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa mà trước hết là quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa.