Chương 1. Cơ sở lý luận về xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài Chương 2. Thực trạng xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố Đà Nẵng Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện công tác xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố Đà Nẵng 7.
Tổng quan các nghiên cứu - Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động đầu tư có lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nước khác (nước nhận đầu tư), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp”. - Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp. Luan van 5 - Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 mà Quốc hội Khoá XI Việt Nam đã thông qua có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tuy nhiên, có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Philip Kotler, 2003: Xúc tiến là hoạt động thông tin marketing tới khách hàng tiềm năng. Wint (1992): Xúc tiến đầu tư “là những nỗ lực của một chính phủ nhằm truyền đạt thông tin về môi trường đầu tư của đất nước mình tới các nhà đầu tư nước ngoài, thuyết phục và trợ giúp họ đầu tư hoặc tái đầu tư vào đất nước mình”. Moran (1998) đã xem xét xúc tiến đầu tư dưới góc độ là một vấn đề của việc phân phối thị trường và đưa ra kết luận có tính 2 chiều. Ông cho rằng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, xúc tiến đầu tư không có ý nghĩa gì hơn là sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế, làm méo mó sự phân phối nguồn lực, hạn chế những ngành công nghiệp không được khuyến khích.
Còn ở thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, xúc tiến đầu tư lại được giải thích như những nỗ lực của chính phủ trong việc thu hút FDI, tuy nhiên cái giá phải trả cho sự can thiệp này là nền kinh tế có thể bị bóp méo. - Wells and Wint (2000) thì “xúc tiến đầu tư là hoạt động thông qua chính phủ hướng đến thu hút dòng vốn FDI”. Các hoạt động này bao gồm quảng cáo, tổ chức hội nghị, hội thảo đầu tư, tham gia hội chợ, triển lãm, các buổi thuyết trình, các nổ lực marketing trực tiếp (one-to-one), các buổi làm việc cụ thể với các nhà đầu tư tiềm năng, xuất bản các ấn phẩm, kết nối nhà đầu tư tiềm năng với doanh nghiệp địa phương, chuẩn bị những đề xuất dự án Luan van 6 (project proposals), tiến hành các nghiên cứu khả thi và hỗ trợ nhà đầu tư đang triển khai hoạt động tại địa phương. - PriceWaterhouseCoopers (2003) và JICA.
Chiến lược xúc tiến FDI tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khái niệm về “xúc tiến đầu tư” được hiểu là các biện pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua một biện pháp tiếp thị tổng hợp của các chiến lược sản phẩm, xúc tiến và giá. - Ngân hàng Thế giới: xúc tiến đầu tư có thể tác động lớn đến mức độ thu hút FDI của một địa phương. Cụ thể là, gia tăng 10% trong ngân sách xúc tiến đầu tư sẽ làm tăng 2,5% lượng vốn FDI; và với mỗi 1$ chi phí cho các hoạt động xúc tiến đầu tư ban đầu sẽ thu về được một giá trị ròng tương ứng gấp gần 4 lần. - Morriset (2003), thống kê cho thấy các tổ chức xúc tiến đầu tư tập trung nhiều nguồn lực vào vận động chính sách thường hoạt động hiệu quả hơn và đem lại lợi ích không những cho nhà đầu tư nước ngoài mà còn cho cả những nhà đầu tư trong nước Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÚC TIẾN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.
CÁC KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐẦU TƢ 1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về FDI. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động đầu tư có lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nước khác khác (nước nhận đầu tư), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp”. Khái niệm này nhấn mạnh đến tính lâu dài trong hoạt động đầu tư và động cơ của các nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp và mở rộng thị trường.
- Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: + Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư. + Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có. + Tham gia vào một doanh nghiệp mới. + Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm) + Quyền kiểm soát: nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên.
Khái niệm của OECD cũng nhấn mạnh đến tính lâu dài của hoạt động đầu tư, tạo ảnh hưởng đến việc quản lý doanh nghiệp tương tự như khái niệm Luan van 8 của IMF nhưng khái niệm này chỉ ra cách thức cụ thể để nhà đầu tư tạo lập sự ảnh hưởng này. - Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI. FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty. - Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". - Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 mà Quốc hội Khoá XI Việt Nam đã thông qua có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”.
Tuy nhiên, có thể hiểu Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư do nhà đầu nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và phản ánh lợi ích dài hạn và quyền kiểm soát của một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế trong một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài. Chủ đầu tư phải có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp cư trú ở một Luan van 9 nền kinh tế khác. Tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định.
Hiện nay, trên thế giới dòng vốn FDI được biểu hiện dưới nhiều hình thức, cụ thể: - Phân theo bản chất đầu tư: (1) Đầu tư phương tiện hoạt động: Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào. (2) Mua lại và sáp nhập (M&A): Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào.
- Phân theo tính chất dòng vốn: (1) Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty. (2) Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm. (3) Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau. - Phân theo động cơ của nhà đầu tư: (1) Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ Luan van 10 năng dồi dào.
Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.