CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN SANG EU 1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu thuỷ sản 1. Khái niệm và phân loại mặt hàng thủy sản Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường. Trong các loại thủy sản, thông dụng nhất là hoạt động đánh bắt, nuôi trồng và khai thác các loại cá.
Một số loài là cá trích, cá tuyết, cá cơm, cá ngừ, cá bơn, cá đối, tôm, cá hồi, hàu và sò điệp có năng suất khai thác cao. Ngành thủy sản là ngành nghiên cứu về sự khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Mặt hàng thủy sản xuất khẩu là mặt hàng thủy sản được sản xuất ra không bán cho thị trường nội địa mà phục vụ nhu cầu của thị trường nước ngoài hoặc là mặt hàng thủy sản của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được sản xuất trong các khu chế xuất bán tại thị trường trong nước. Mặt hàng thủy sản xuất khẩu cũng được phân loại theo nhiều cách.
Phân loại thủy sản theo cấu tạo loài, môi trường sống và khí hậu, theo môi trường nước ta có, theo nguồn gốc, theo mức độ chế biến hay theo cách phân loại của tổ Tổ chức Hải quan thế giới, thường được gọi tắt là Hệ thống HS. Phân loại mặt hàng thủy sản xuất khẩu theo Tổ chức Hải quan thế giới Mã HS Mô tả hàng hóa 0301 Cá sống. 0302 Cá, tươi hoặc ướp lạnh, trừ phi-lê cá (fillets) và các loại thịt cá khác thuộc nhóm 03. 0303 Cá, đông lạnh, trừ philê cá (fillets) và các loại thịt khác thuộc nhóm 03.
0304 Phi-lê cá và các loại thịt cá khác (đã hoặc chưa xay, nghiền, băm), tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh. 0305 Cá, làm khô, muối hoặc ngâm nước muối; cá hun khói, đã hoặc chưa làm chín trước hoặc trong quá trình hun khói; bột mịn, bột thô 6 và viên làm từ cá, thích hợp dùng làm thức ăn cho người. 0306 Động vật giáp xác, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, sống, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh,… 0307 Động vật thân mềm, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, sống, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh,… 0308 Động vật thủy sinh không xương sống trừ động vật giáp xác và động vật thân mềm, sống, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh,… 1504 Mỡ và dầu và các phần phân đoạn của chúng, từ cá hoặc các loài động vật có vú sống ở biển, đã hoặc chưa tinh chế nhưng không thay đổi về mặt hoá học. 1604 Cá đã được chế biến hay bảo quản; trứng cá tầm muối và sản phẩm thay thế trứng cá tầm muối chế biến từ trứng cá.
1605 Động vật giáp xác, động vật thân mềm và động vật thủy sinh không xương sống khác, đã được chế biến hoặc bảo quản. Nguồn: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) Trước đây mặt hàng surimi và surimi mô phỏng được áp mã HS 0304, phân nhóm 0304.99 “Phi-lê cá và các loại thịt cá khác (đã hoặc chưa xay, nghiền, băm), tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh.” Tuy nhiên, theo công văn số 461/TCHQ-TXNK ngày 29/01/2021 của Tổng cục Hải quan thì surimi được phân loại thuộc nhóm 1604, phân nhóm 1604.20 “Cá đã được chế biến hoặc bảo quản cách khác”. Cụ thể, đối với sản phẩm surimi đông lạnh có quy trình sản xuất: Cá tươi/Tách xương, da, nội tạng – Lấy phần thịt cá – rửa thịt cá, loại bỏ tạp chất – tinh lọc, loại bỏ xương cá, ép nước – sau đó bổ sung chất chống biến tính lạnh đông đối với các mô thịt (phụ gia bột lòng trắng trứng, đường,.) nhưng không bổ sung thêm các chất gia vị khác như tiêu, mì chính, thì là - rồi nhào trộn đều lên khoảng 10-15 phút – Đóng gói theo quy trình và đưa vào đông lạnh phù hợp được phân loại được áp mã HS 030499. Đối với sản phẩm surimi mô phỏng: từ surimi động lạnh bổ sung thêm gia vị định hình và xử lý chín để tạo thành các sản phẩm mô phỏng như: Thanh cua, ghẹ, cá viên, kamaboko, sò điệp, xúc xích,.
Đặc điểm mặt hàng thủy sản xuất khẩu Đối tượng sản xuất của mặt hàng thủy sản xuất khẩu là sinh vật nên phải tuân theo các quy luật sinh học và quy luật tự nhiên làm cho chúng có tính biến động và rủi ro cao. Mặt hàng thủy sản xuất khẩu chịu ảnh hưởng và tác động lớn 7 của các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là các điều kiện về đất đai, khí hậu, thời tiết. Chúng rất nhạy cảm với các yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện tự nhiên đều tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của thủy sản. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, thủy sản sẽ sinh trưởng và phát triển bình thường, đem lại sản lượng cao và chất lượng tốt.
Ngược lại, nếu điều kiện tự nhiên không thuận lợi sẽ gây sụt giảm sản lượng và chất lượng các mặt hàng thủy sản. Sản phẩm thủy sản xuất khẩu có đặc trưng tiêu biểu là dễ hư hỏng và thay đổi chất lượng, phẩm cấp sản phẩm khi chuyển dịch trên chuỗi cung ứng nên mỗi sản phẩm khác nhau yêu cầu cách thức bảo quản khác nhau. Mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu là hàng thô, sơ chế và bảo quản chủ yếu là đông lạnh nên chất lượng bị suy giảm nhiều trong quá trình xuất khẩu. Chất lượng của mặt hàng thủy sản xuất khẩu tác động trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng.
Chính vì vậy, chất lượng mặt hàng thủy sản xuất khẩu luôn là yếu tố đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm. Tại các quốc gia phát triển nơi nhập khẩu mặt hàng thủy sản, ngày càng có nhiều yêu cầu đặt ra đối với hàng thủy sản nhập khẩu về cả số lượng và chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch, xuất xứ,. Vì vậy để thâm nhập vào các thị trường khó tính này, các doanh nghiệp buộc phải đáp ứng được những yêu cầu mà họ đặt ra. Các tiêu chí đánh giá hoạt động xuất khẩu thủy sản Hiện nay, có nhiều cách đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm.
Tuy nhiên năng lực cạnh tranh sản phẩm thường được nhận biết chủ yếu qua ba cách: Một là, đánh giá trực tiếp từ thị trường thông qua các tiêu chí như tăng trưởng doanh thu, thị phần; Hai là, đánh giá trực tiếp trên sản phẩm thông qua các tiêu chí như chất lượng, giá cả, tiện ích, mẫu mã,…; Ba là, đánh giá từ ý kiến của khách hàng thông qua các tiêu chí như mức độ thỏa mãn nhu cầu, mức độ nhận biết sản phẩm, mức độ trung thành với nhãn hiệu. Mỗi kênh đánh giá cho ta một góc nhìn về năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Trong đó, kênh đánh giá trực tiếp từ thị trường là kênh quan trọng hơn cả. Xuất khẩu thủy sản từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển vẫn chủ yếu là nguyên liệu, sản phẩm sơ chế.
Các công ty xuất khẩu thủy sản không bán sản phẩm trực tiếp cho các công ty bán lẻ hay các cửa hàng siêu thị ở thị trường nhập khẩu. Các sản phẩm thủy sản xuất khẩu được bán cho các trung tâm thu mua lớn hay các công ty xuyên quốc gia rồi mới được bán cho các công ty bán lẻ. Sản 8 phẩm thủy sản xuất khẩu từ các nước đang phát triển khi đến tay người tiêu dùng tại thị trường các nước phát triển hầu hết chúng được mang nhãn hiệu của các nhà nhập khẩu hoặc nhà bán lẻ. Vì vậy, kênh đánh giá từ khách hàng là khó khả thi trong nghiên cứu này.
Từ những lý do nêu trên, trong nghiên cứu này sử dụng hai kênh: đánh giá trực tiếp trên thị trường và đánh giá trực tiếp trên sản phẩm, với năm tiêu chí cơ bản sau đây: Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu; Thị phần xuất khẩu của mặt hàng thuỷ sản; Cơ cấu thị trường xuất khẩu; Giá xuất khẩu; Chất lượng mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu; Khả năng cạnh tranh của mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu. Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của mặt hàng thủy sản Đây là một tiêu chí quan trọng đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường, một tiêu chí mang tính tuyệt đối thể hiện nhanh nhất, rõ nét nhất đối với các sản phẩm trên thị trường. Mặt hàng thủy sản xuất khẩu có năng lực cạnh tranh lớn sẽ dễ dàng bán được và bán chạy, làm tăng kim ngạch hơn những mặt hàng thủy sản xuất khẩu có khả năng cạnh tranh yếu, dẫn tới kim ngạch xuất khẩu nhỏ. Kim ngạch xuất của mặt hàng thủy sản đạt ở mức cao trên thị trường chứng tỏ sản phẩm được thị trường chấp nhận, khách hàng ưa chuộng.
Sự chấp nhận của khách hàng thể hiện sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nếu cơ hội lựa chọn sản phẩm như nhau, doanh thu là tiêu chí phản ánh chính xác mức độ thoả mãn nhu cầu khác nhau của khách hàng đối với sản phẩm. Tăng kim ngạch, nghĩa là sản phẩm thoả mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng, mức độ thoả mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng phản ánh năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản xuất khẩu cao hơn. Thị phần xuất khẩu của mặt hàng thủy sản Thị phần được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng thủy sản của doanh nghiệp, quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu của tất cả các doanh nghiệp, quốc gia xuất khẩu loại mặt hàng thủy sản trên một thị trường và trong thời gian nhất định.
Mỗi loại mặt hàng thủy sản xuất khẩu thường chiếm những mảng thị trường nhất định, những mảng thị trường đó chính là số lượng khách hàng tiêu dùng mặt hàng thủy sản của doanh nghiệp. Khi mặt hàng thủy sản xuất khẩu có sự kết hợp các yếu tố bên trong sản phẩm và những yếu tố bên ngoài sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm và mức độ bao phủ thị trường lớn 9 hơn, khoảng thị phần tồn tại từ trước đến nay trở nên nhỏ bé so với sức mạnh và khả năng của nó. Với sức mạnh đó, tạo nên năng lực cạnh tranh rất lớn trước các đối thủ cạnh tranh, buộc mặt hàng thủy sản xuất khẩu của đối thủ cạnh tranh yếu hơn nhường lại từng phần thị trường đã chiếm.