Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG - HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA NÓ 1. QUAN NIỆM VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VÀ XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG 1. Khái niệm và các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật lao động 1. Khái niệm vi phạm pháp luật Trong đời sống xã hội, pháp luật là những chuẩn mực, thước đo cho hành vi xử sự của con người.
Vi phạm pháp luật lao động là hiện tượng xã hội xuất hiện trong quá trình lao động. Đó là những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về lao động. Vi phạm pháp luật lao động được thể hiện dưới những dạng thức khác nhau: có thể là việc thực hiện không đúng hoặc không thực hiện những quy định của pháp luật lao động đã được ghi trong Bộ luật lao động và các văn bản pháp luật khác [40, tr. Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật lao động là người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; người lao động; tập thể lao động; tổ chức công đoàn khi thực hiện quyền đại diện cho người lao động.
Vi phạm pháp luật lao động được hiểu là những hành vi không thực hiện hoặc thực hiện trái các quy định của pháp luật lao động, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động của Nhà nước và xã hội [22, tr. Như vậy, chúng ta có thể hiểu vi phạm pháp luật lao động là hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật lao động và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới quan hệ lao động và các quan hệ có liên quan đến quan hệ lao động. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật lao động Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý (khách quan và chủ quan) do từng ngành luật tương ứng quy định thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể vi phạm pháp luật.
Thông thường một cấu thành vi phạm pháp luật gồm bốn yếu tố: Khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan. * Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật lao động Chủ thể vi phạm pháp luật có thể là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý, nghĩa là theo quy định của pháp luật thì họ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi trái pháp luật của mình trong trường hợp đó [40, tr. Để đưa ra các biện pháp xử lý thích hợp đối với hành vi vi phạm pháp luật lao động việc xác định chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hết sức cần thiết. Chủ thể vi phạm pháp luật lao động có thể là: (i) Người sử dụng lao động; tổ chức đại diện người sử dụng lao động; (ii) Người lao động; (iii) Tập thể lao động; (iv) Tổ chức công đoàn; (v) Cơ quan tiến hành tố tụng lao động.
- Người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động là một chủ thể của quan hệ pháp luật lao động, bao gồm: cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cơ quan, tổ chức nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân, hộ gia đình. Các chủ thể này trong quá trình sử dụng lao động đã không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định của pháp luật lao động làm xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. - Người lao động: Người lao động trong các quan hệ thường là công dân Việt Nam. Để trở thành chủ thể quan hệ pháp luật lao động "Người lao động là người ít nhất có đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động" [32, Điều 6].
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người lao động chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm pháp luật lao động khi họ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ lao động dẫn đến xâm hại quyền và nghĩa vụ chủ thể khác trong quan hệ lao động. - Tổ chức công đoàn: Tổ chức công đoàn là tổ chức đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động và là tổ chức xã hội tập hợp đông đảo người lao động. Tổ chức công đoàn chỉ trở thành chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật lao động khi họ không thực hiện chức năng đại diện của mình, chống lại quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Trên thực tế, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật là các tổ chức công đoàn rất ít, hầu như không có.
Trong giai đoạn hiện nay công đoàn đã từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, thông qua đó bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của người lao động. - Cơ quan quản lý lao động, cơ quan tố tụng lao động: Các cơ quan này đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực lao động, đảm bảo cho pháp luật lao động được thi hành nghiêm chỉnh trong đời sống xã hội thông qua việc thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật trong các cơ quan, tổ chức đối với cơ quan quản lý lao động và trong hoạt động xét xử các tranh chấp lao động với cơ quan tố tụng lao động. Ví dụ về những hành vi vi phạm pháp luật lao động của những cơ quan này có thể kể ra là: Đối với cơ quan quản lý nhà nước về lao động, trong quá trình thực hiện việc kiểm tra giám sát những quy định của pháp luật lao động phát hiện ra những hành vi vi phạm pháp luật lao động nhưng đã không xử lý hoặc xử lý không đúng với các quy định của pháp luật lao động hoặc đã cho phép sử dụng máy móc thiết bị không đảm bảo yêu cầu về an toàn vệ sinh lao động 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hay đã chấp thuận những giải pháp không đảm bảo vệ sinh lao động khi mở rộng hoặc cải tạo các cơ sở để sản xuất, sử dụng, lưu giữ chất phóng xạ… Đối với cơ quan tố tụng lao động, trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động đã ra những bản án, quyết định trái với quy định của pháp luật lao động, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong việc đảm bảo thi hành các quy định của pháp luật lao động từ đó dẫn đến sự coi thường các quy định pháp luật lao động. * Khách thể của vi phạm pháp luật lao động Mọi hành vi trái pháp luật đều xâm hại tới những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ.
Vì vậy, những quan hệ xã hội ấy là khách thể của vi phạm pháp luật. Tính chất của khách thể có ý nghĩa quan trọng xác định mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật [21, tr. Khi tham gia vào quan hệ pháp luật lao động, các chủ thể đều hướng tới mục đích nhất định, lợi ích mà các bên hướng tới rất khác nhau. Đối với người sử dụng lao động, khi tham gia vào quan hệ pháp luật lao động lợi ích mà họ hướng tới đó là lợi nhuận cao, đồng thời quá trình sản xuất đảm bảo trật tự nề nếp.
Còn đối với người lao động lợi ích mà họ hướng tới là có thu nhập cao để đảm bảo cuộc sống của gia đình họ, nhưng đồng thời phải đảm bảo những điều kiện phù hợp cho quá trình lao động của mình. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về lao động và cơ quan tố tụng lao động, lợi ích mà họ hướng tới là đảm bảo việc sử dụng lao động một cách hợp lý, đồng thời các quy định của pháp luật phát huy vai trò của nó trong việc bảo vệ quyền và lợi ích các bên trong quan hệ lao động, đặc biệt là người lao động. * Về mặt khách quan Về mặt khách quan là những dấu hiệu biểu hiện bên ngoài của vi phạm luật lao động, nó bao gồm các dấu hiệu như: hành vi vi phạm, hậu quả của hành vi vi phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả [41, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cũng như các loại vi phạm pháp luật khác, vi phạm pháp luật lao động được thể hiện qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định pháp luật pháp luật, gây thiệt hại chung cho xã hội hoặc thiệt hại trực tiếp về vật chất hay tinh thần cho từng thành viên cụ thể trong xã hội.
Đây là dấu hiệu cơ bản bắt buộc phải có trong một vi phạm, những gì mới chỉ nằm trong tư tưởng trong suy nghĩ mà chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì chưa thể là vi phạm. Những hành vi này có thể là không tuân thủ quy định của Bộ luật lao động năm 2012 về việc làm, học nghề, hợp đồng lao động,… và khi những hành vi này được thực hiện nó có thể gây ra những hậu quả nhất định như sự tổn thất về vật chất hoặc tinh thần của các chủ thể hoặc xâm hại đến trật tự kỷ cương của Nhà nước. Những thiệt hại của các chủ thể, phải là sự hiện thực hóa khả năng gây hậu quả của hành vi trái pháp luật. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả do hành vi vi phạm gây ra là một dấu hiệu quan trọng của mặt khách quan.
Quan hệ nhân quả ở đây được hiểu là hành vi vi phạm gây ra hậu quả và hậu quả xảy ra bắt nguồn trực tiếp từ hành vi vi phạm là nguyên nhân và kết quả của nhau. Nếu hậu quả xảy ra không liên quan hoặc không xuất phát trực tiếp từ hành vi vi phạm thì không phải là mối quan hệ nhân quả. Việc xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật lao động và hậu quả gây ra có ý nghĩa trong việc xác định hành vi vi phạm cũng như trách nhiệm của người thực hiện hành vi. * Về mặt chủ quan Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm pháp luật [41, tr.
Nó được đặc trưng bởi yếu tố lỗi, động cơ và mục đích của chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật lao động. Lỗi được coi là một dấu hiệu cơ bản trong cấu thành của mọi vi phạm.