CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI 1. Khái quát về thế chấp tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai tại các ngân hàng thương mại 1. Khái quát về tài sản hình thành trong tương lai Tài sản HTTTL là một chế định được BLDS năm 2015 ghi nhận là một loại tài sản1. Việc ghi nhận sự tồn tại của tài sản HTTTL thực tế đã được nhắc đến trong Bộ Dân luật năm 1972 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa với thuật ngữ “tài sản hậu lai”.
Cụ thể tại Điều 1415 quy định như sau “tất cả những tài sản hiện hữu và hậu lai của người mắc nợ, động sản cũng như bất động sản đều là vật đảm bảo của chủ nợ”. Thông qua quy định này, có thể thấy giai đoạn trước năm 1975, tài sản HTTTL đã được thừa nhận là một loại tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, khi BLDS năm 1995 ra đời, với việc đưa ra khái niệm tài sản bao gồm “vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”2, luật đã gián tiếp loại bỏ sự tồn tại của tài sản HTTTL vì loại tài sản này không phải là “vật có thực” và cũng không thuộc những loại được liệt kê theo quy định. Mặt khác, BLDS năm 1995 còn có quy định: “Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của người bảo đảm và được phép giao dịch”3.
Như vậy, có thể thấy rõ BLDS năm 1995 hoàn toàn không thừa nhận tài sản HTTTL là một loại tài sản và cũng không cho phép sử dụng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự. Đến BLDS năm 2005, khái niệm về tài sản đã được sửa đổi thành: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”4. Theo đó, tài sản không còn phải buộc là “vật có thực” như tại BLDS năm 1995 nữa. Đồng thời, BLDS năm 2005 còn quy định “vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có 1 Khoản 2 Điều 105 BLDS năm 2015.
9 hoặc được HTTTL”. BLDS năm 2005 cũng đưa ra định nghĩa về vật HTTTL là “động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”5. Như vậy, BLDS năm 2005 đã thừa nhận sự tồn tại của tài sản HTTTL và cho phép sử dụng loại tài sản này như một loại tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, khái niệm về tài sản hình thành trong tương lại tại BLDS năm 2005 còn chưa thật sự rõ ràng và đầy đủ.
Thực tế, trước khi BLDS năm 2005 ra đời thì khái niệm về tài sản HTTTL đã được ghi nhận trong Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Cụ thể, tài sản HTTTL được định nghĩa là “động sản, bất động sản hình thành sau thời điểm ký kết giao dịch bảo đảm và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm như hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, công trình đang xây dựng, các tài sản khác mà bên bảo đảm có quyền nhận”6. Đến khi Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm ra đời, khái niệm tài sản HTTTL được thay đổi thành: “Tài sản HTTTL là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết. Tài sản HTTTL bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm”7.
Có thể thấy, khái niệm về tài sản HTTTL tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã mở rộng hơn so với Nghị định số 165/1999/NĐ-CP khi ghi nhận cả những tài sản đã hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm nhưng chưa thuộc sở hữu của bên bảo đảm tại thời điểm giao kết. Đến năm 2012, khái niệm này tiếp tục được điều chỉnh bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP. Theo đó, tài sản HTTTL được định nghĩa bằng phương pháp liệt kê, bao gồm: Tài sản được hình thành từ vốn vay; tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết 5 Điều 320 BLDS năm 2005. 6 Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP.
7 Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP. 10 giao dịch bảo đảm; tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật. Nghị định cũng nhấn mạnh rằng “tài sản HTTTL không bao gồm quyền sử dụng đất”8. Với việc đưa ra khái niệm này, có thể thấy rằng nhà làm luật muốn tránh đưa ra một khái niệm mang tính khái quát về tài sản HTTTL mà chỉ liệt kê những loại tài sản thuộc dạng này.
Đồng thời, khái niệm này chỉ được Nghị định số 11/2012/NĐ-CP tiếp cận ở khía cạnh là đối tượng của giao dịch bảo đảm. Điều này dẫn đến sự thiếu thống nhất trong cách hiểu về nhà ở HTTTL vì mỗi ngành luật có một cách tiếp cận khác nhau. Đến khi BLDS năm 2015 có hiệu lực thi hành, khái niệm về tài sản HTTTL đã lần đầu tiên được luật hóa. BLDS năm 2015 xác định “tài sản bao gồm bất động sản và động sản.
Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản HTTTL”9. Khái niệm tài sản HTTTL tiếp tục được nhà làm luật định nghĩa bằng phương pháp liệt kê, tuy nhiên đã mang tính khái quát hơn nhằm phù hợp để áp dụng chung cho cả hệ thống pháp luật dân sự. Theo đó, tài sản HTTTL bao gồm: “Tài sản chưa hình thành; Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch”10. Có thể thấy, dù BLDS năm 2015 vẫn chưa đưa ra một khái niệm tài sản HTTTL theo hướng tiếp cận về bản chất tài sản nhưng định nghĩa tại BLDS năm 2015 có thể xem là một khái niệm chính thống về tài sản HTTTL và là cơ sở cho nhà làm luật quy định chi tiết trong các luật chuyên ngành.
Tóm lại, với những phân tích trên có thể rút ra được khái niệm về tài sản HTTTL, đó là tài sản mà tại thời điểm các bên xác lập giao dịch, nó vẫn chưa hình thành nhưng có đủ cơ sở để chắc rằng sẽ hình thành trong tương lai hoặc đã hình thành đầy đủ nhưng chưa được chủ thể xác lập quyền sở hữu tại thời điểm xác lập 8 Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP. 9 Khoản 2 Điều 105 BLDS năm 2015. 10 Khoản 2 Điều 108 BLDS năm 2015. Với khái niệm này, cùng với tính chất khác biệt của mình so với tài sản hiện có, tài sản HTTTL mang một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, tài sản HTTTL là một loại tài sản.
Tài sản được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong sự chiếm hữu của một chủ thể11. Theo đó, để được xem là tài sản thì phải thỏa mãn hai điều kiện, đó là phải mang lại được lợi ích cho chủ thể sở hữu và phải trị giá được bằng tiền. Trước đây, khái niệm tài sản được pháp luật ghi nhận chỉ đơn giản bao gồm những vật hiện hữu, hiện có12. Tuy nhiên, theo sự phát triển của xã hội, đối tượng của các giao dịch cũng ngày càng đa dạng và phức tạp.
Không chỉ những tài sản là vật hiện hữu, hiện có, con người còn sử dụng những vật chưa hiện hữu để giao dịch nhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của mình. Dù có được pháp luật thừa nhận hay không thì nó vẫn tồn tại và phát triển trong xã hội. Vì vậy, để phù hợp với thực tiễn, phạm vi của khái niệm tài sản theo quy định của pháp luật cũng được mở rộng nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho các chủ thể khi tham gia giao dịch đối với loại tài sản này, đồng thời làm đa dạng và phong phú hơn loại tài sản tham gia giao dịch dân sự, tạo điều kiện dễ đàng cho chủ sở hữu sử dụng tài sản của mình linh hoạt hơn kể cả khi nó HTTTL. Theo đó, tài sản không chỉ bao gồm những vật hiện hữu, hiện có mà còn bao gồm cả những vật chưa hiện hữu nhưng chắc chắn sẽ HTTTL.
Với việc là một loại tài sản, tài sản HTTTL cũng thỏa mãn hai điều kiện: Mang đến lợi ích cho chủ thể sở hữu khi có thể được sử dụng để tham gia vào các giao dịch phục vụ cho mục đích bất kỳ như thế chấp để bảo đảm khoản vay ở các NHTM và giá trị của tài sản HTTTL có thể được xác định thông qua những giấy tờ, chứng từ dùng để xác lập quyền sở hữu như hợp đồng mua bán nhà ở HTTTL. Thứ hai, tại thời điểm xác lập giao dịch, tài sản HTTTL vẫn chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng chưa được xác lập quyền sở hữu. 11 Trần Thị Minh (2021), Bàn về khái niệm tài sản và tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Công thương, http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/ban-ve-khai-niem-tai-san-va-tang-cho-tai-san-theo-phap- luat-viet-nam-79692.htm, truy cập ngày 06/06/2022. 12 Điều 172 BLDS năm 1995 quy định tài sản bao gồm vật hiện có.
12 Khác với tài sản đã hình thành rồi và đã xác lập quyền sở hữu, tài sản HTTTL có thể chưa hình thành hoặc chưa tồn tại tại thời điểm các bên xác lập giao dịch. Ví dụ: Tòa nhà chung cư đang xây móng, hàng hóa, máy móc đang sản xuất theo đơn hàng, hoa lợi, lợi tức. Ngoài ra, tài sản HTTTL còn bao gồm cả những trường hợp tài sản đã được hình thành, tuy nhiên chưa được xác lập quyền sở hữu. Ví dụ phổ biến nhất là các căn hộ chung cư đã được chủ đầu tư xây dựng xong, đã bàn giao cho người mua nhưng đang chờ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.
Đây là một đặc điểm cơ bản để phân biệt tài sản HTTTL và tài sản hiện có. Chính đặc điểm này đã làm cho tài sản HTTTL luôn tiềm tàng rủi ro cao hơn rất nhiều so với tài sản hiện có. Thứ ba, các quan hệ giao dịch liên quan đến tài sản HTTTL chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật. Do tại thời điểm xác lập giao dịch, tài sản HTTTL có thể vẫn chưa được hình thành nên loại tài sản này mang rất nhiều rủi ro vì khó mà biết trước chắn chắn nó sẽ hình thành đúng như dự liệu của các bên hay không.